Ngày 5/6/1911, một người thanh niên yêu nước Việt Nam đã thực hiện một cuộc hành trình ra đi tìm con đường cứu nước cho dân tộc. Chuyến đi kéo dài 30 năm này đã đưa đến một vận mệnh mới, một tương lai tươi sáng cho cả dân tộc. Người thanh niên yêu nước đã làm nên cuộc hành trình vĩ đại ấy chính là Nguyễn Tất Thành (Chủ tịch Hồ Chí Minh sau này).

Hòa bình chính là ước mơ lớn nhất và luôn được khao khát nhất của cả dân tộc Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Tuy nhiên, để thực hiện được ước mơ tưởng chừng như đơn giản này, dân tộc ta đã biết bao lần phải gồng mình chống lại những thế lực ngoại bạo tàn, hung ác luôn muốn biến nước ta thành những kẻ bị lệ thuộc, thành những dân tộc nhược tiểu, thậm chí là bị diệt vong như bao dân tộc khác trên thế giới. Chính cái quy luật “nước lớn, nước nhỏ” như là một định mệnh đã cuốn Việt Nam vào vòng xoáy đấu tranh để thoát khỏi kiếp nô lệ, định mệnh đó có thể hạ gục bất kỳ dân tộc nào nhưng nó không bao giờ chiến thắng được ý chí và lòng tin của dân tộc Việt. Điều này đã làm nên biết bao chiến công khiến kẻ thù phải khiếp sợ như Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chi Lăng, Đống Đa…

Chưa đầy 10 thế kỷ sau khi giành được chủ quyền và thoát khỏi họa xâm lược từ phương Bắc, dân tộc Việt Nam lại phải đương đầu với một thế lực lớn hơn rất nhiều lần. Đó chính là tai họa mà cả dân tộc ta phải gánh chịu vào giữa thế kỷ XIX đến từ một nước ngoại bang xa xôi cách Việt Nam hàng vạn km. Nhưng nhìn vào lịch sử dân tộc, chúng ta có quyền hy vọng về một thời thế tạo anh hùng giống như bao lần trước, đó là những vị cứu tinh, những người con ưu tú của dân tộc như Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung….. Định mệnh lịch sử buộc dân tộc ta chịu số phận đau khổ, chịu kiếp nô lệ; nhưng lịch sử cũng ban cho dân tộc ta những vị cứu tinh, những người có thể làm thay đổi định mệnh ấy. Trong lần này, vị cứu tinh không xuất hiện từ trong nhân dân, cũng không phải trong chốn hoàng cung, mà xuất hiện từ sau một chuyến ra đi tìm đường cứu nước vào đầu thế kỷ XX. Đó là chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành.

Vùng đất Nghệ An địa linh nhân kiệt đẹp nên thơ nhưng giàu truyền thống yêu nước, đấu tranh cách mạng, cũng là nơi ra đời của cậu bé Nguyễn Sinh Cung (1890). Lớn lên trong một gia đình tri thức, được sự dạy dỗ của người mẹ, cùng với sự thừa hưởng nền giáo dục dân tộc (làng Kim Liên và Hoàng Trù, tức là quê nội và quê ngoại của Bác chính là nơi có truyền thống giáo dục và  khoa cử ở Nghệ An), ngay từ nhỏ Nguyễn Sinh Cung đã bộ lộ sự thông hiểu và ham học hỏi của mình, đặc biệt là những câu chuyện về tình cảnh của đất nước mà cậu Cung được nghe trong những lần theo hầu cha tiếp chuyện với những người bạn thân của ông. Bên cạnh đó, nền kinh tế nuôi sống gia đình chủ yếu đến từ nghề dệt của mẹ (bà Hoàng Thị Loan) và nghề dạy học của cha (cụ Nguyễn Sinh Huy) nên cuộc sống gia đình rất khó khăn, ngay từ nhỏ, cả ba anh chị em Nguyễn Sinh Cung đã thấm thía được cảnh sống gian khổ của người nghèo.

Thời điểm Nguyễn Sinh Cung được sinh ra là sau 6 và 7 năm triều đình nhà Nguyễn lần lượt ký hai Hiệp ước Harmand và Patenotre thừa nhận sự đô hộ của Pháp tại Việt Nam, một trang tối của lịch sử dân tộc chính thức mở ra từ giai đoạn này. Lần lượt những cuộc khởi nghĩa nổ ra điều bị dập tắt, dân tộc chìm trong kiếp đọa đày, đau khổ.

Năm lên 5 tuổi (1895), cậu Cung theo cha mẹ và anh trai (Nguyễn Sinh Khiêm) vào Huế, được tận mắt chứng kiến cảnh hoa lệ của kinh đô hoa lệ , nhưng kèm theo đó là nỗi nhục của một dân tộc bị mất nước, bị đàn áp dưới chân bọn xâm lược. Đây là thời điểm mà những cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước theo khuynh hướng phong kiến đều bị dập tắt, thất bại và lâm vào bế tắc. Phong trào Cần Vương nổ ra vào năm 1884 đến nay đã được 10 năm, cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng thất bại, khởi nghĩa Yên Thế vẫn chưa mang lại đột biến….

Bi kịch lớn nhất cuộc đời của Nguyễn Sinh Cung xảy ra năm 10 và 12 tuổi, sự tổn thất quá lớn khi lần lượt người mẹ thân yêu và cậu em trai qua đời, lúc này cụ Huy và anh trai Khiêm đang ở Thanh Hóa. Nỗi đau mất người thân cùng với nỗi đau mất nước đã hun đúc ý chí, quyết tâm cứu nước của Nguyễn Sinh Cung.

Năm 13 tuổi, Nguyễn Sinh Cung được cho theo học tại Vinh. Tại đây, lần đầu tiên cậu Cung được nghe những mỹ từ về Tự do – Bình đẵng – Bác Ái của người Pháp đã kích thích trí tìm tòi của mình bên trong những từ ấy. Nhưng trên thực tế, Nguyễn Sinh Cung lại chứng kiến sự tàn bạo của thực dân Pháp đối với nhân dân ta. Chính sự tương phản đó đã tác động đến nhận thức, làm cho cậu Cung muốn khám phá về nền văn minh phương Tây, mà cụ thể ở đây là nước Pháp.

Năm 1906, Nguyễn Sinh Cung lúc này với tên gọi Nguyễn Tất Thành vào Huế theo cha vào Huế lần thứ hai và được cho theo học tại trường Quốc học Huế, ngôi trường lớn nhất tại Đông dương thời bấy giờ do Pháp thành lập năm 1898 theo chỉ dụ của vua Thành Thái nhằm thay thế cho trường Quốc tử giám. Trong quá trình học tập tại đây, Nguyễn Tất Thành đã tham gia nhiều phong trào yêu nước, đặc biệt là phong trào kháng thuế năm 1908 bùng nổ khắp trung kỳ, phong trào nổ ra sau cuộc vận động dân chủ của Phan Chu Trinh và Trần Quý Cáp.

Trong năm 1908, phong trào Đông Du của Phan Bội Châu gặp thất bại, còn nhà chí sĩ Phan Chu Trinh bị đày ra Côn Đảo. Đây là hai nhân vật yêu nước đại diện cho khuynh hướng dân chủ tư sản đều không thành công trong con đường cứu nước của mình, còn phong trào Yên Thế của Hoàng Hoa Tham lãnh đạo ở giai đoạn 1, nay bước sang giai đoạn hai nhưng vẫn chưa mang lại hiểu quả, phong trào chỉ hoạt động quanh quẩn tại vùng rừng núi Yên Thế. Chính những sự nhận thức, những kinh nghiệm học tập được từ các vị tiền bối trên đã thúc giục Nguyễn Tất Thành phải tìm một hướng đi khác cho riêng mình.

Năm 1909, cụ Nguyễn Sinh Huy bị triều đình đưa vào làm tri huyện Bình Khê (Bình Định) vì lý do không ngăn cản Nguyễn Tất Thành tham gia phongg trào chống chính quyền thuộc địa. Ở tại Huế một thời gian, Nguyễn Tất Thành cũng lên đường vào Nam, vào xứ thuộc địa để hiểu rõ hơn bản chất của bọn thực dân đế quốc. Trên đường vào Nam, Nguyễn Tất Thành đã ghé qua Bình Định thăm cha của mình trước khi vào Phan Thiết.

Tại Phan Thiết, được sự giới thiệu và giúp đỡ của cụ nghè Trương Gia Mô (bạn thân của cụ Nguyễn Sinh Huy), Nguyễn Tất Thành vào dạy học tại trường Dục Thanh. Đây cũng là giai đoạn mở đầu cho sự nghiệp giáo dục thanh niên – thế hệ tương lai của đất nước ở mọi thời đại mà Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc và sau này là Hồ Chí Minh đã theo đuổi suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình.

Quá trình dạy học tại trường Dục Thanh (từ khoảng tháng 9/1910 đến tháng 2/1911) đã tạo nên bước chuyển trong cuộc đời của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành. Từ một người đi học và trở thành một người đi dạy học, ngoài việc truyền bá kiến thức, chữ nghĩa, Nguyễn Tất Thành đã truyền bá được những điều mình biết về thực tế xã hội cho học sinh tại trường, đồng thời giáo dục cho những học sinh về lòng yêu nước, yêu con người, lên án cái ác, cái tàn bạo đang diễn ra ngay trên quê hương của mình.

Rời Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành vào Sài Gòn, xứ thuộc địa do thực dân Pháp cai trị, anh được bố trí ở khu vực xóm Chiếu (Quận 1) và chi nhánh của Liên thành thư quán (Quận 5). Quá trình sinh sống tại Sài Gòn, Nguyễn Tất Thành từng xin vào học việc ở trường thợ máy và làm nhân công bóc vác tại Cảng sài Gòn. Tại đây, Nguyễn Tất Thành đã trực tiếp chứng kiến sự hành hạ, bóc lột đến tận xương tủy của thực dân Pháp đối với người lao động, quyền sống của con người bị chúng khinh rẻ, con người giống như một “sản phẩm rẻ tiền” có rất nhiều trên xứ thuộc địa Nam kỳ cho bọn thực dân mặc sức sử dụng, khi không cần đến thì đem vứt bỏ.

Thời gian lưu lại Sài Gòn đã tác động rất nhiều đến nhận thức của người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành về bản chất của bọn đế quốc thực dân và sự đau khổ, chịu đựng của người dân dưới ách bốc lột của chúng. Có thể nói đến lúc này, lòng yêu nước của Nguyễn Tất Thành đã bao hàm nội dung mới: yêu nước gắn với thương dân, giải phóng dân tộc bao hàm cả giải phóng nhân dân, sự nhận thức này đã vượt lên trên những tư tưởng của những nhà yêu nước đương thời và càng thôi thúc quyết tâm của chàng thanh niên họ Nguyễn phải tìm ra con đường cứu nước, giải phóng dân tộc.

Ra đi với hai bàn tay trắng, làm bất cứ nghề gì để sống, để có thể nuôi ý chí quyết tâm học hỏi, tích lũy thêm kinh nghiệm để tìm con đường giải thoát cho dân tộc đang chìm trong kiếp nô lệ, đó cũng là quá trình tìm con đường phát triển lịch sử dân tộc trong thế kỷ XX. Con tàu Amiral  Latouche Treville rời bến cảng Nhà rồng ngày 5/6/1911 đã mang theo người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành để thực hiện chuyến đi trên khắp thế giới, đó cũng là chuyến hành trình vĩ đại của một vĩ nhân đi tìm chân lý của thời đại. Con tàu rời khỏi đất nước Việt Nam đồng thời cũng mang theo nổi khát khao, mang theo sứ mệnh lịch sử của cả dân tộc đặt lên vai người thanh niên yêu nước Việt Nam – Nguyễn Tất Thành.

Tham khảo

Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1

Trần Dân Tiên. Những mẫu chuyện về cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chủ tịch

Phim tư liệu về Hồ Chí Minh do HTV thực hiện

 

Huỳnh Nguyễn - DH10SU

  • y11su

    cam on ban,toi that hanh phuc biet bao khi doc duoc nhung dong bai viet ve con duong hanh trinh cuu nuoc cua Bac vi lanh tu vi dai trong long moi nguoi dan Viet Nam

  • Tran Thanh Tan

    Cảm ơn bạn về bài viết. Bác Hồ luôn là hình ảnh đẹp lưu giữ trong tim mỗi người Việt Nam, vị cha già kính yêu của dân tộc!