Người ta lớn lên từ những chuyến đi…
Xuất phát tại trường Đại học An Giang.
Tục ngữ có câu: “Đi một ngày đàng học một sàng khôn”, quả là không sai. Dọc theo cuộc hành trình ngược tuyến đường huyết mạch của Việt Nam, chúng tôi đã qua nhiều tỉnh thành, đi qua không biết bao nhiêu vùng miền của Tổ Quốc, mới thấy tầm hiểu biết của mình thật sự quá hạn hẹp. Tôi có thể ngồi hàng giờ liền trước màn hình vi tính để đi khắp cả bốn biển năm châu, nhưng Biết và Hiểu thật sự không giống nhau.

Chỉ mới đến Bình Thuận nhưng dường như tôi nhận ra được một điều, thiên nhiên đã quá ưu đãi với miền Nam chúng ta. Những cánh đồng cò bay thẳng tắp, những rẫy hoa màu trù phú tốt tươi, những dòng sông nước đầy ăm ắp…ở miền Tây Nam bộ hoàn toàn đối lập với khung cảnh nơi đây. Tôi không biết phải diễn tả như thế nào. Hoang vắng, cằn cỗi, và cô liêu…Người dân chỉ trồng được duy nhất một thứ là Thanh Long, một họ của cây xương rồng, vốn chỉ phát triển tốt ở những vùng đất khô cằn, nên có cần chi sự màu mỡ, phì nhiêu. Tự nhiên tôi cảm thấy bâng khuâng, mảnh đất này, con người nơi đây, có phải chăng gặp nhau ở sự khô cằn, gầy guộc? Vậy mà cuộc sống vẫn tồn tại cái câu “tình đất – tình người” mới thấy được hết tình yêu quê hương trong tâm hồn của mỗi con người là bất diệt…

Bỗng nhiên tôi nhớ trường quá! Nhớ hai hàng phượng vỹ, nhớ con đường, nhớ sân trường có những chùm hoa sứ trắng. Tôi thích cái cảm giác một mình đạp xe thật nhanh giữa con đường ấy về đêm, chỉ có đèn đường và mấy tán phượng đầu mùa hạ…Cũng gió lành lạnh táp vào mặt, cũng một chút sương mù và tiếng lá khô rơi khe khẻ, thích lắm.

Xe chúng tôi lại tiếp tục đi ngược Quốc lộ 1A, khung cảnh ngoài cửa sổ cứ chuyển dần từ màu nước tro sang trắng hồng. Ngày mới bắt đầu bằng cảnh bình minh trên biển. Tôi đã cảm nhận được trong gió có vị mặn nồng của muối, cái mùi hăng hăng của cá, tiếng còi tàu cập cảng, có cả thứ ánh sáng leo lét của những chiếc thuyền thúng đi thẻ mực đang tắt dần trước lúc bình minh.  

Đến Ninh Thuận…

Xe dừng lại ở một trạm xăng dầu thuộc huyện Ninh Hải, tỉnh Ninh Thuận. Hơi nóng trên xe khiến tôi không thể nào ngồi yên trên chiếc ghế nệm, cái thoáng đãng của bầu trời, màu xanh của nước biển, màu trắng đục của những vuông muối cuối mùa đã kéo tôi bước nhanh ra cửa xe. Cảnh đẹp, rất đẹp, nhưng tôi nhận ra được cái đẹp ấy dường như toát lên từ sự nghèo nàn. Đồng muối là thứ cánh đồng dễ nhận ra nhất. Vì chẳng có cây cối gì cả! Cả cánh đồng thẳng tắp, phẳng lì, chẳng nhìn thấy điểm cuối, cứ một khoang đen lại một khoang trắng rồi lại một đen, một trắng. Đen là cát, trắng là nước biển đã phơi thành muối. Trên những con đường đất nhỏ gập nghềnh, thi thoảng lắm mới có tiếng người cười nói. Bọn trẻ con lưng trần vác cào đi nghênh ngang dưới cái nắng rát da. Chúng đã quen với khí hậu khắc nghiệt, thậm chí là vui bởi có như vậy muối mới được mùa.

Đứng giữa vùng đất bạt ngàn nắng nóng, tôi cảm nhận trong những trận gió thổi mạnh từ biển lùa theo những đợt sóng gầm gừ dữ dội có cái vị hăng nồng của muối. Không ai có thể phủ nhận rằng: Biển rất đẹp. Nhưng dường như ai cũng hiểu rằng: Trời vẫn đẹp, biển vẫn xanh nhưng trong lòng biển vẫn còn đấy ngàn cơn sóng dữ…Tôi cảm nhận rất rõ cái dữ dội ấy đã, đang và sẽ mãi hằn sâu theo từng vết chân chim trên gương mặt những cư dân miền biển.

 Người dân nơi đây luôn chật vật và thiếu thốn bởi những khắc nghiệt mà biển cả dồn dập đưa đến. Người ta vẫn bảo, mỗi nghề có cái cực riêng của nó, nhưng có lẽ nghề làm muối là một trong những nghề kham khổ nhất. Diêm dân (người làm muối) vừa phải phụ thuộc vào giá cả, vừa phải lệ thuộc vào “ông giời”. Những cơn mưa trái mùa rơi xuống ruộng muối như những lưỡi dao cứa vào lòng diêm dân. Vẫn biết, “nắng mưa là việc của giời”, nhưng nắng mưa luôn là nỗi ám ảnh của những người dân gắn đời mình với hạt muối, những người suốt ngày phải dầm thân trên những đồng muối mặn chát để có những mẻ muối trắng, mong có bữa cơm đạm bạc.

Và những mảnh đời “mặn đắng”…

 Đây không phải lần đầu tiên tôi nhìn thấy những ruộng muối. Nhưng đây lại là lần đầu tiên tôi nghĩ về cái gót chân của những người dân xứ muối. Ai cũng biết đời diêm dân là cực! Họ phải phơi mình giữa ruộng muối chát mặn trong cái nắng chói chang; hơi muối mặn đặc quánh dưới chân; những hạt muối bám vào cơ thể đen cháy, ăn mòn những gót chân xám mốc, nứt nẻ...Những gót chân ấy chắc chắn không bao giờ còn cảm thấy đau nhức, không bao giờ còn cảm thấy rát buốt vì gần như họ đã tiếp xúc với muối biển cả cuộc đời mình. Hơn ai hết, với họ, ánh nắng mặt trời đã trở thành sự sống còn, tất cả sự cố gắng, cực nhọc và tảo tần. Phải chăng đây mới là ý nghĩa thật sự của câu “chân cứng đá mềm”?

Nếu người nông dân phải một nắng hai sương quần quật ngoài đồng để đổi lấy từng bát cơm, thì diêm dân cũng phải “bán lưng cho nắng, bán mặt cho muối” suốt ngày mới mong đối mặt được với cái nghèo. Bóng họ lầm lũi đổ trên đồng. Họ chia nhau làm từ việc nhẹ đến nặng, giúp nhau khuân vác, dựng thang làm bậc lên xuống, gánh muối thô về từng lều nhỏ. Đường trở về nhẹ gánh nhưng bao nắng gió, nhọc nhằn vẫn ngày qua ngày làm mòn thêm đôi vai của họ. Mà phải đâu là một mùa, một năm đôi ba vụ muối, đằng này là cả một “cuộc đời mặn đắng”. Làm muối là nghề truyền thống của gia đình, cha truyền con nối. Phụ nữ về làm dâu ở xứ Ninh Hải này cũng theo nghề làm muối, rồi con họ sinh ra, lại truyền cho cháu, cho chắt, cứ thế đời này qua đời khác vẫn tiếp tục cái nghề “mặn đắng” ấy.

 Đặc thù của nghề muối là phải làm việc vào lúc trời nắng gắt nhất, càng nắng càng mừng, mồ hôi quện với muối khiến quần áo mặc chỉ được mấy tháng là đã mục rách. Phút nghỉ ngơi lại là giữa trưa tròn bóng. Giờ đây tôi mới hiểu rõ thành ngữ “đổ mồ hôi, sôi nước mắt” là như thế nào. Cái vị nồng quen thuộc của từng hạt mặn trắng tinh ấy…có khi nào chúng ta tự hỏi nó đến từ đâu? Có phải vì bao mồ hôi, nước mắt diêm dân đổ xuống đồng mà thành ra vị mặn? Hay nước biển bao đời đã mặn, nay lại vì nắng, vì gió, vì sức lao động bền bĩ của còn người mà kết tinh thành “vị mặn cho đời”?

Xe chúng tôi vẫn tiếp tục đi, suốt dọc cuộc hành trình ngược tuyến đường huyết mạch. Và tôi phát hiện ra, có những điều rất ư là bình dị nhưng mang đến cho đời những bài học sáng trong, giản dị vẫn hiện diện bên lề cuộc sống, vậy mà chúng ta lại vô tình không để ý. Bài học từ những hạt muối trắng tinh! Đó là sự cần cù, chịu thương chịu khó của những người dân xứ muối, là những truyền thống văn hóa, những quan niệm đẹp được truyền đến ngàn đời của dân tộc Việt Nam.

Có phải chăng ra đi chính là một sự trở về?

Trở về với cội nguồn, với truyền thống ngàn đời của dân tộc, trở về với cái chân chất, hồn hậu trong chính tâm hồn mình mà vô tình cuộc sống xô bồ đã cuốn trôi đi…Và đôi khi chúng ta dù có đánh đổi cả cuộc đời vẫn không sao tìm lại được…

MS 31

  • Nguyễn Phong Vũ

    Xin chào tác giả.
    Cam ơn bạn đã có những dòng cảm nghĩ thật hay về nghề mà bạn gọi là "mặn đắng" đó.
    Là một người thuộc lĩnh vực du lịch. Tôi rất vui khi một vị khách đi du lịch như bạn lại có những cảm nhận về vùng đất ấy, về con người và công việc của họ với một tình cảm chân thành như thế. Chứ nó không là những lời đánh giá về danh lam thắng cảnh hay những món ăn ngon...của những người đi du lịch thường cảm nhận.
    Đó cũng là điều những người làm du lịch như chúng tôi rất muốn du khách của mình có được đấy bạn ạ.
    Chào bạn, chúc bạn vui khỏe, học tốt.