Là di tích lịch sử quốc gia từ năm 1962. Xây dựng hồ sơ trình lên Ủy ban di sản của UNESCO từ năm 2006. Ngày 27/6/2011, tại thủ đô Paris (Pháp), Ủy ban di sản thế giới thuộc Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên Hiệp Quốc (UNESCO) đã chính thức công nhận di tích công trình kiến trúc lịch sử thành Tây Đô (thành nhà Hồ) trở thành di sản văn hóa thế giới. Đây là công trình được xây dựng hoàn toàn bằng đá cách đây hơn 600 năm và đã gắn liền với một nhân vật lịch sử, đó là Hồ Quý Ly.

Sơ nét về Hồ Quý Ly           

Hồ Quý Ly (1336 – 1407), tự là Lý Nguyên, dòng dõi trạng nguyên Hồ Hưng Dật, người Chiết Giang (Trung Quốc) sống vào đời Hậu Hán, thời kỳ Ngũ Đại thập quốc (947-950), tương đương với thời kỳ Dương Tam Kha ở nước ta. Hồ Hưng Dật sang làm thái thú lộ Diễn Châu và định cư tại Bào Đột (ngày nay là xã Quỳnh Lâm, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Đến đời thứ 12 là Hồ Liêm thì chuyển ra Thanh Hóa, làm con nuôi của một người tên là Lê Huấn (sau đó cải sang họ Lê), Hồ Quý Ly là cháu đời thứ tư của cụ Hồ Liêm (còn gọi là Lê Quý Ly).

Hồ Quý Ly tham dự vào chính sự thời Trần suốt 28 năm (1371 – 1399). Trong khi nhà Trần tồn tại khoảng 175 năm (1225-1400), tính từ thời Trần Thái Tông đến Trần Thiếu Đế. Cũng như các triều đại trước đó, đất nước dưới sự trị vì của những vị vua Trần đầu triều (Trần Thái Tông, Trấn Thánh Tông, Trần Nhân Tông) rất hưng thịnh, nhân tài xuất hiện nhiều phò vua giúp nước, chính trị và luật lệ được chỉnh đốn lại tôn nghiêm, học hành thi cử được mở mang thêm, ba lần đánh tan quân xâm lược Nguyên Mông, mở mang bời cõi về phương Nam, đặc biệt Phật giáo lúc bấy giờ không ngừng được chấn hưng.

Tuy nhiên, kể từ thời của vua Trần Nghệ Tông thì Đại Việt trở nên suy yếu, kỷ cương phép nước lỏng lẻo, gian thần nổi lên lộng quyền, triều chính luôn trong tình trạng rối ren, phức tạp. Nhân hoàn cảnh đó, Hồ Quý Ly một quý tộc có vây cánh và thân thế trong triều (do có hai người cô làm cung phi dưới thời Trần Minh Tông và đều trở thành mẹ hai vua nhà Trần sau này) đã lấn áp quyền lực nhà Trần. Sau khi Nghệ Tông mất, Quý Ly lên làm phụ chính Thái Sư, thâu tóm quyền hành trong triều. Để cũng cố thế lực và tiến hành âm mưu phế đế, ông buộc vua Thuận Tông phải nhường ngôi cho thái tử Trần An (năm 1396), lúc này được 3 tuồi lên kế nghiệp tức là vua Trần Thiếu Đế (cháu ngoại Hồ Quý Lý). Sau đó Quý Ly tự xưng là Khâm Đức Hưng Liệt Đại Vương, kể từ đây ông bắt đầu nắm mọi quyền hành trong triều chính và đề ra những chính sách cải cách của mình (cải cách của Hồ Quý Ly được thực hiện trong suốt thời gian từ năm 1395 đến 1407).

Tháng 2-1400 Hồ Quý Ly truất ngôi của Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, quốc hiệu Đại Ngu, dời đô về thành Tây Đô (được xây dựng vào năm 1397, hiện nay vị trí thành nằm ở huyện Vĩnh Lộc- Thanh Hóa). Chưa được một năm, ông nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương rồi lên làm Thái Thượng Hoàng cùng coi việc nước.

Năm 1407, giặc Minh xâm lược nước ta, cha con Hồ Quý Ly kháng cự quyết liệt nhưng thất bại. Ông chạy đến Hà Tĩnh thì bị bắt đưa về Trung Quốc, thời đại nhà Hồ sụp đổ, đất nước rơi vào ách đô hộ của nhà Minh trong suốt 20 năm.

Trong thời gian cầm quyền kể từ giai đoạn cuối nhà Trần, Hồ Quý Lý đã thực hiện rất nhiều cải cách quan trọng nhưng lại thất bại, một phần là do từ chính những cải cách của ông chưa phù hợp với hoàn cảnh đất nước, một phần là do ông xóa ngôi nhà Trần nên không thu phục được nhân tâm. Đây chính là lý do quan trọng dẫn đến ông không tập hợp được sức lực toàn dân chống lại cuộc xâm lăng của nhà Minh. Chính điều này mà Hồ Nguyên Trừng đã từng nói: “Thần không ngại đánh, chỉ sợ lòng dân có theo hay không mà thôi!”.

Xây dựng thành Tây Đô (thành nhà Hồ)

Hồ Quý Ly là nhà cải cách khá táo bạo trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục… Trong đó có những cải cách tiến bộ như trên lĩnh vực kinh tế, văn hóa và giáo dục; nhưng cũng có những cải cách khá mớ, chưa thật sự phù hợp như trên lĩnh vực tài chính (phát hành tiền giấy và thu tiền đồng trong nhân dân). Cải cách của ông được thực hiện xuyên suốt kể từ năm 1395 đến khi bị nhà Minh đô hộ vào năm 1407. Những cải cách trên nhằm đem lại sự thay đổi trong xã hội đang suy yếu và phức tạp của chế độ quân chủ quý tộc của nhà Trần, và cũng để chuẩn bị cho sự ra đời của một triều đại mới.

Trong những việc làm của ông nhằm mang lại một sự đổi mới cho đất nước, mong muốn đất nước hưng thịnh trở lại đã dẫn đến những sai lầm quan trọng trong tư duy của một người lãnh đạo. Đó là việc ông quyết định dời kinh đô từ Thăng Long vào Thanh Hóa. Đại Việt sử ký toàn thư có chép như sau: “Mùa xuân, tháng giêng (1397), sai Lại bộ thượng thư kiêm Thái sử lệnh là Đỗ Tĩnh (có sách chép là Đỗ Mẫn) đi xem đất và đo đạc động An Tôn, phủ Thanh Hóa, đắp thành, đào hào, lập nhà tông miếu, dựng đàn xã tắc, mở đường phố có ý muốn dời đô đến đó. Tháng ba thì công việc hoàn tất”.

Bất chấp sự can ngăn của triều thần, Hồ Quý Ly vẫn giữ nguyên quyết định dời đô của mình. Quan Khu mật chủ sự lúc bấy giờ là Nguyễn Nhữ Thuyết dâng thư can, đại ý nói: “Ngày xưa, nhà Chu,nhà Ngụy dời kinh đô đều gặp điều chẳng lành. Nay đất Thăng Long có núi tản viên, có sông Lô nhị, núi cao sông sâu, đất bằng phẳng rộng rãi. Từ xưa các bậc đế vương mở nền dựng nước, không đời nào không lấy đất ấy làm nơi sâu gốc bền rễ. Nay xin hãy noi theo việc trước, như quân Nguyên bị giết, như giặc Chiêm phải nạp đầu… Xin nghĩ lại điều đó, để làm thế vững vàng cho nước nhà. An Tôn dất đai chật hẹp, hẻo lánh, ở nơi đầu non cuối nước, hợp với loạn mà không hợp với trị. Cho dù dựa thế hiểm trở thì đời xưa đã có câu: “Cốt ở đức chứ không cốt ở hiểm” (ĐVSK toàn thư). Vì lời can ngăn này mà ông đã bị tội.

Việc dời kinh đô về Thanh Hóa hẳn Hồ Quý Ly muốn dựa vào thế hiểm của vùng đất địa linh nhân kiệt vốn là quê hương của ông, đồng thời dễ dàng đoạn tuyệt với vương triều Trần và quan trọng hơn là thuận tiện cho việc tổ chức chống quân xâm từ phương Bắc. Kinh đô nhà Hồ được xây dựng ở An Tôn, mang tên là Tây Đô mà nhân dân thường gọi là thành nhà Hồ, thành Tây Giai. Còn Thăng Long gọi là Đông Đô.

Thành nhà Hồ được xây dựng ở vị trí rất hiểm trở, ở khoảng giữa sông Mã và sông Bưởi, phía Bắc có núi Thổ Tượng, phía Tây có núi Ngưu Ngoạ, phía Đông có núi Hắc Khuyển, phía Nam là nơi hội tụ của sông Mã chảy từ phía Tây về và sông Bưởi chảy tới. Thời kì mới xây dựng, đây là một tòa thành rất kiên cố toàn bộ tường thành và bốn cổng thành được làm rất thủ công, chất liệu xây dựng bằng những phiến đá xanh đục đẻo tinh xảo vuông vức, xếp chồng khích lên nhau, các phiến đá có chiều dài trên 11,5m đến 2m, có tản đá nặng từ 15 đến 20 tấn. Thành có tổng thể bao quát hình gần vuông, 4 cổng thành có 4 hướng: Nam, Bắc, Tây, Đông gọi là các cổng Tiền, Hậu, Tả, Hữu, các cổng thành xây theo kiến trúc hình vòm. Trong thành có điện Hoàng nguyên, cung Diên Thọ, đông cung Núi Đọ… rất nguy nga tráng lệ chẳng khác gì kinh đô Thăng Long.

Bên cạnh vật liệu chủ yếu là đá khối, còn có gạch nung là loại vật liệu kiến trúc rất quan trọng, góp phần tạo nên một tòa thành đá mang tinh túy độc đáo riêng, tiêu  biểu cho kinh đô phong kiến ở khu vực Đông Nam Á thế kỉ XV, đặt biệt là các viên gạch đều có tên khắc chữ hán nôm, ghi địa danh làng xã đã sản xuất gạch để dung váo việc xây thành.

Qua khai quật khảo cổ học thành cổ nhà Hồ đã từng được Petasi - một nhà kiến trúc cổ Đông Nam Á đánh giá là công trình kiến trúc đẹp nhất của nền kiến trúc cổ An Nam. Và các nhà khảo cổ học Nhật bản ca ngợi là tòa thành đá có tầm cỡ Châu Á.

Lịch sử bao giờ cũng luôn đưa ra những đánh giá công bằng với tất cả mọi người. Đối với nhân vật lịch sử Hồ Quý Ly cũng vậy mặc dù còn nhiều cái nhìn khác nhau về cuộc đời của ông trên khía cảnh là một phản thần, thoán nghịch; nhưng ngược lại, không ai phủ nhận công lao lớn của đối với đất nước. Thông qua hành động của mình, Hồ Quý Ly đã chứng minh mình là một người yêu nước, mong muốn một sự đổi mới cho đất nước trước tình cảnh xã hội đang trên đà đi xuống vào cuối triều Trần. Thông qua những biện pháp canh tân trên lĩnh vực kinh tế - tài chính, chính trị, văn hóa - xã hội đã chứng minh cho sự kỳ vọng của ông về một đất nước hưng thịnh. Lịch sử đã chứng minh những nhân vật đứng đầu các triều đại phong kiến Việt Nam đều mắc những sai lầm nhất định, Hồ Quý Ly cũng vậy, nhưng cũng phải thừa nhận rằng chính sai lầm trong việc dời đô về Thanh Hóa của ông cùng với việc xây thành An Tôn đã để lại cho đời sau một công trình kiến trúc lịch sử tầm cỡ Đông Nam Á, trải qua hơn 600 năm, nó đã trở thành niềm tự hào của người Việt Nam khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Như vậy, đây là công trình kiến trúc lịch sử văn hóa thứ năm của Việt Nam được đưa vào danh sách di sản văn hóa thế giới sau Quần thể di tích kiến trúc Cố đô Huế (1993), Phố cổ Hội An (1999), Thánh địa Mỹ Sơn (1999) và Hoàng thành Thăng Long (2010).

 

Tài liệu tham khảo:

Đại Việt Sử ký toàn thư

Trương Hữu Quýnh (chủ biên). Đại cương Lịch sử Việt Nam

Nguyễn Danh Phiệt. Hồ Quý Ly, Viện Sử Học và Nxb Văn Hóa-Thông Tin

Ngô Huy Quýnh. Lịch sử kiến trúc Việt Nam. Nxb VHTT

Thùy Tuyết - DH9SU

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.