Sáng ngày 30/6 vừa qua, tại khách sạn Bến đá Núi Sam (TX Châu Đốc), Hội Khoa học Lịch sử tỉnh An Giang phối hợp với Sở Khoa học và Công nghệ An Giang tổ chức Hội thảo Khoa học Lịch sử về danh nhân Doãn Uẩn với chủ đề “Danh nhân Doãn Uẩn – vị danh thần lương tướng triều Nguyễn với việc trấn giữ, bảo vệ biên cương và mở mang khai thác vùng đất biên cương Tây Nam Tổ quốc vào nửa đầu thế kỷ XIX”.

Ngoài Ban tổ chức, Hội thảo về danh nhân Doãn Uẩn lần này còn có sự hiện diện của nhà sử học Dương Trung Quốc – Tổng thư ký Hội KHLS Việt Nam và Ban liên lạc Họ Doãn Việt Nam. Hội thảo đã thu hút hơn 100 nhà khoa học trong cả nước với hơn 90 bài tham luận tập trung vào 3 chủ đề:

-        Làm rõ thêm về thân thế, sự nghiệp văn võ toàn tài của danh thần lương tướng Doãn Uẩn trong lịch sử.

-        Đánh giá thêm về sự đóng góp của danh thần Doãn Uẩn vào việc trấn giữ, mở mang và khai thác vùng đất An Giang xưa.

-        Đánh giá công lao đóng góp của Doãn Uẩn với vùng đất biên cương Tây Nam Tổ quốc và vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

Thông qua Hội thảo đã làm sáng tỏ về thân thế và sự nghiệp của Doãn Uẩn cùng với những đóng góp của ông đối với vùng đất An Giang nói riêng và Tây Nam Bộ nói chung. Qua đó, làm cho nhân dân An Giang và thế hệ trẻ tự hào yêu mến quê hương đất nước, cống hiến sức lực làm tròn nhiệm vụ kế thừa các bậc tiền nhân trong việc phát huy những giá trị nhân văn, giá trị lịch sử của những bậc khai mở cõi đối với vùng đất này. Bên cạnh đó, các nhà khoa học còn thống nhất ý kiến cần phải đặt tên cho danh nhân Doãn Uẩn tại An Giang như con đường, trường học hay một công trình công cộng nhằm nhớ ơn những bậc tiền nhân có công đối với vùng đất An Giang, cụ thể ở đây là danh nhân Doãn Uẩn.

Cảm nhận về danh nhân Doãn Uẩn

Danh thần Doãn Uẩn (1795-1850), người làng Ngoại Lãng, huyện Thư Trì, phủ Kiến Xương, trấn Sơn Nam Hạ nay thuộc xã Song Lãng, huyện Vũ Thư thuộc tỉnh Thái Bình. Ông từng giữ các chức vụ: quan Điểm bạ ở Hàn lâm viện (1829); Viên ngoại lang bộ Hộ (1831); Lang trung bộ Hộ (1832) sau đó thì được thăng Tham tri bộ Hộ và giữ chức Án sát tỉnh Vĩnh Long; tháng 5/1833 giữ chức Tổng trấn tỉnh Gia Định…. Sau do tình hình nhiều tỉnh thành trong nước bất ổn ông được triều đình tin dùng cử đi Thái Nguyên, Thanh Hóa, Hưng Yên, Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi… vỗ về yên dân, dẹp trừ loạn phản, ngoại xâm. Sự nghiệp và tiếng tâm của ông nở rộ khi giữ chức Bang biện đại thần Trấn Tây tháng 12/1840, Tuần phủ An Giang tháng 5/1844, được vua phong làm An Tây mưu lược tướng, rồi thăng lên Thượng thư Bộ Binh kiêm Đô ngự sử và Tổng đốc An Hà. Cả một đời danh thần Doãn Uẩn cống hiến cho triều chính cho dân cho nước. Ông đích thực là một danh tướng, văn võ song toàn, bằng tài năng và đức độ của mình ông được tin dùng qua ba đời vua liên tiếp nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Những khẳng định trên không chỉ dựa vào sử liệu ghi chép lại, mà còn được căn cứ vào thực tế những dấu tích còn sót lại mang dấu ấn của ông ở An Giang nói riêng cũng như Nam Bộ nói chung.

           Trước hết, danh thần Doãn Uẩn đích thực là một tài năng quân sự thao lược. An Giang cũng như nhiều vùng khác ở Nam Bộ, là điểm đến của di dân khai hoang mở cỏi ở nửa đầu thế kỷ XVII. Trải qua quá trình lao động miệt mài, gian lao, đối mặt với không ít hiểm nguy như thú dữ, tà phong chướng khí… các bậc tiền công tiền hiền đã cải tạo vùng đất vốn hoang vu, lầy lội thành những cánh đồng trú phú, những xóm làng đông đúc. Từ 1802 khi nhà Nguyễn chính thức ra đời và đặt lại bộ máy nhà nước thống nhất từ trung ương đến địa phương thì An Giang vẫn đóng vai trò vô cùng quan trọng về mặc kinh tế, an ninh, quốc phòng của đất nước ở phía Tây Nam. Từ vua Gia Long cho đến vua Tự Đức triều đình luôn quan tâm đến mọi diễn biến ở An Giang. Bằng chứng là không lâu sau khi lên nằm quyền Gia Long đã cử những tướng giỏi cải quản vùng này (như Thoại Ngọc Hầu), đặc biệt là cho đào hai con kênh Thoại Hà (1818) và Vĩnh Tế (1819-1825). Việc làm này không chỉ là tiền đề quan trọng để ổn định đời sống nhân dân tại chỗ, phát triển nông nghiệp, thu hút lưu dân đến định cư khai hoang lập làng, còn với mục đích làm quốc phòng vùng biên giới phía Tây Nam của tổ quốc, song song đó là mở đường thông thường với Hà Tiên. Những việc làm ấy cho thấy vị trí chiến lược quan trọng của An Giang.

Thực tế An Giang bấy giờ là vùng đất vốn không mấy yên ổn, đây từng có các cuộc khởi nghĩa chống đối triều đình của các dân tộc ít người, vùng giáp biên giới với Cao Miên thương xuyên bị cướp vùng biên giới hoành hành nên đời sống nhân dân có nhiều lo toan. Bằng chứng tháng 10/1833 Doãn Uẩn được triều đình sai dẹp loạn giặc Xiêm tràn vào An Giang, Hà Tiên. Tháng 8/1840 một số quân lính ở Trấn Tây nổi loạn giết hại nhiều người Việt, bấy giờ Trương Minh Giảng và Lê Văn Đức tâu về triều đình, ngay lập tức vua cho Tham tán Dương Văn Phong thăng thụ An – Hà Tổng đốc, Khâm sai Lê Văn Đức kiêm Tham tán, Doãn Uẩn sung chức Bang tá, hội với Trương Minh Giảng lo việc đánh dẹp. Do thế giặc mạnh hơn ta nhiều lần, nhưng với chiến lược khôn khéo ông cùng quân triều đình duy trì tác chiến đến tháng 4/1844 tình hình tạm thời lắng dịu. Tháng 5/1844, ông lại được cử vào Nam kỳ giữ chức Tuần phủ An Giang (tỉnh trưởng) thay cho Nguyễn Công Trứ, cùng với Nguyễn Văn Chương (Nguyễn Tri Phương) làm Tổng đốc An Hà thay cho Nguyễn Công Nhàn. Sau đó Doãn Uẩn có công lớn phá tan được đồn giặc ở Sách Sô tháng 6/1845, đến tháng 8 cùng năm ông chỉ huy 2.000 quân cùng Nguyễn Tri Phương thống lĩnh 3000 quân, đánh thẳng vào Nam Vang tiêu diệt đồn Thiết Thằng, quân Xiêm - Lạp ở Nam Vang tháo chạy, Trấn Tây được thu phục. Với những công lao to lớn dẹp loạn phản nhiều tỉnh phía Bắc, đập tan ngoại xâm phía Nam, tháng 7/1847 vua Thiệu Trị đúc 9 cỗ thần công, Doãn Uẩn được khắc tên vào cỗ thứ nhất Thần uy phục viễn đại tướng quân. Tháng 6/1849 vua sai dựng bia đá ở Vũ miếu mang tên “An Tây võ công”, và cho khắc trên ấy tên 6 người có công lớn nhất trong việc đánh giặc tại thành Trấn Tây, ông Doãn Uẩn là một trong 6 người ấy.

Thứ hai, Doãn Uẩn không chỉ là một vị tướng tài năng thao lược, yên dân dẹp giặc, giữ vững cõi bờ non sông đất nước... Ông còn là cây bút tài năng và sắc sảo để lại nhiều tác phẩm Hán Nôm đặc sắc như: Trấn Tây kỷ lược, Ngoại Lãng Doãn tướng công niên biểu, Doãn tướng công hoạn tích, Tuy Tĩnh tử tạp ngôn và nhiều bài thơ hay khác… Đặc biệt trong số đó là bài thơ “Sách Sa đồn” trích trong tập Trấn Tây kỷ lược được sáng tác trong thời gian ông đánh giặc ở đồn Sách Sô (một đồn lớn ở Hồng Ngự) tháng 6/1845 đến nay vẫn rất nổi tiếng, đồng thời cũng làm nên vẻ đẹp uyển chuyển trong bút pháp danh thần Doãn Uẩn.

Non sông tốt đẹp nghĩ thương ôi
Ruộng đất vì đâu cỏ ngập rồi
Thế giặc hợp tan chừng mấy độ
Quan quân tiến thoái kể bao hồi
Xiêm tham chiến cứ sao bền đặng
Man quốc bù trì cũng uổng thôi
Biên giới thần lo tròn chữ phận
Công danh xin nhượng bậc hơn đời

          Các tác phẩm của ông sóng động phác họa lại những ngày chiến đấu bảo vệ bờ cõi, về thiên nhiên cảnh sắc, đất trời,… không những mang vẻ đẹp thuần túy thơ ca, mà nó giúp người đọc phần nào hình dung tái hiện lại bức tranh lịch sử ông đang sống. Những tác phẩm Doãn Uẩn lưu lại dù không nhiều nhưng đã có những đóng góp nhất định vào kho tàng văn học Hán Nôm nước nhà.

          Thứ ba, nhắc đến danh thần Doãn Uẩn là nói đến bậc anh hùng văn võ toàn tài, ông là vị quan thanh liêm mẫu mực, là hình mẫu về phương thức thu phục nhân tâm, vỗ về an dân. Suốt 22 năm làm quan của ông có lẽ lý tưởng “phò vua giúp nước” hầu như ăn sâu vào con người toàn tài này, cả cuộc đời của ông đã dâng hiến cả cho triều đình. Ấy chính là đức tính hàng đầu của một người quan chính trực. Nên nhớ danh tướng Doãn Uẩn nhiều phen đánh Nam dẹp Bắc hễ nơi nào có giặc, phiến loạn, được triều đình giao trọng trách là ông đều lên đường và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đó là khí chất một dũng tướng, tận trung. Ngay khi ông giữ chức Tuần Phủ An Giang tháng 5/1844 việc làm đầu tiên là cùng Nguyễn Tri Phương dâng sớ xin vua cho nhân dân sáu tỉnh Nam kỳ được miễn các loại thuế trong vòng một năm, lược bỏ các thủ tục thanh tra bất hợp lý, tiến hành cải cách hành chính. Đó mới chính là phụ mẫu của muôn dân, thấu hiểu quan tâm sâu sắc tình hình đời sống dân. Tháng 7/1847 ông cho xây lại chùa Tây An hay Tây An cổ tự, là một ngôi chùa Phật giáo tọa lạc tại ngã ba cận kề chân núi Sam, Châu Đốc. Vì vui mừng lập được đại công đánh đuổi được quân Xiêm - Lạp, nên đã cho xây dựng lại chùa bằng tường gạch, nền cuốn đá xanh, mái lợp ngói, và đặt tên là Tây An với hàm ý trấn yên bời cõi phía Tây. Việc làm này trước tiên là một cách ghi dấu ấn với chiến công hiển hách của quân ta ở Trấn Tây. Sau là một nghĩa cử cao đẹp thể hiện giá trị nhân đạo, việc xây chùa không chỉ mục đích phục vụ thờ cúng tâm linh dân địa phương, mà còn hàm ý khuyên nhủ nhân dân sống lương thiện chí thú làm ăn, khai hoang mở cõi. Điều này cũng cho thấy ông đã thấu hiểu tình cách và con người An Giang, những tính ngưỡng tốt đẹp của dân bản xứ trước trời đất thiên nhiên vốn khắc nghiệt và thần bí.

          Có thể nói được sinh ra và lớn lên trong bối cảnh hết sức đặc biệt của lịch sử dân tộc, chế đố phong kiến dần chứng tỏ sự lạc hậu và chậm tiến so với chuyển biến của thời đại. Thế nhưng, bằng khí chất của một nam nhi quân tử đứng trước trời đất, trước vận mệnh nước nhà, danh thần Doãn Uẩn đã ra sức cống hiến trọn sự nghiệp của mình cho triều chính nước nhà. Mặc dù là vị quan phụng sự trong triều đình phong kiến nhưng những phẩm chất cao quý, trung quân ái quốc, văn võ song toàn, liêm khiết… Ông xứng đáng là phụ mẫu muôn dân, được người đời, sử sách ca tụng tôn vinh, là tấm gương cho lớp nười sau noi theo. Hơn hết, là những đóng góp dấu ấn của ông đã mang lại cho vùng đất An Giang chúng ta được như ngày hôm nay. Thiết nghĩ, mặc dù quá khứ đã lùi khá xa, cuộc sống không ngừng đổi khác nhưng điều đó không cho phép chúng ta lãng quên quá khứ hào hùng của dân tộc, của tỉnh nhà, quên đi những giọt mồ hôi, xương máu tiền nhân đã đổ xuống cho mảnh đất này, danh thần Doản Uẩn là một con người như vậy.

 Tham khảo:

Việt Nam sử lược

Đại Nam chính biên liệt truyện

Đại Nam nhất thống chí

Văn Sịnh - DH8SU

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.