Lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ được ghi nhận từ chuyến đi kinh lược của Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam năm 1698 theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu. Gần 60 năm sau, một vị danh nhân khác của miền Trung đã thừa lệnh chúa Nguyễn Phúc Khoát theo bước của tiền nhân vào Nam tiếp nhận vùng đất Tầm Phong Long (tỉnh An Giang xưa), kết thúc quá trình Nam tiến vĩ đại của dân tộc. Đây chính là vùng đất cuối cùng chưa thuộc về Nam Bộ lúc bấy giờ và vị danh tướng đã đóng vai trò xác lập chủ quyền đất nước ta thời đó chính là Nguyễn Cư Trinh.

I. Lược sử vùng đất Nam Bộ trước khi Nguyễn Cư Trinh vào Nam.

Vùng đất Nam Bộ ngày nay trước kia thuộc về địa phận của vương quốc Phù Nam (thế kỉ I đến thế kỉ VII) và Thủy Chân Lạp (thế kỉ VII đến thế kỉ XVII). Nhưng những thành tựu còn tồn tại ở Nam Bộ cho đến ngày nay chủ yếu có từ thời của vương quốc Phù Nam với một nền văn hóa Óc Eo đa dạng và rực rỡ. Sau khi Chân Lạp trỗi dậy và thôn tính Phù Nam, vùng đất này được gọi là Thủy Chân Lạp. Cũng chính từ đấy, vùng đất này rất ít khi được chính quyền Chân Lạp quan tâm do những bất ổn trong nội bộ triều đình và nơi đây cũng chỉ có số ít người Khmer sinh sống lúc bấy giờ.

Bước vào thế kỉ XVII, cuộc chiến tranh giữa hai thế lực Đàng Ngoài (chúa Trịnh) và Đàng Trong (chúa Nguyễn) xảy ra liên miên, đời sống nhân dân ngày càng cơ cực, đói khổ. Từ đây, vùng đất phì nhiêu, màu mỡ nhưng còn rất hoang sơ, lầy lội ở phía Nam chưa được khai phá và trên thực tế chính quyền Chân Lạp cũng không kiểm soát nơi này đã được các lưu dân để ý đến. Họ mở đầu cho công cuộc di dân và khai hoang vùng đất này với mục đích tìm một mảnh đất an lành, tìm kế sinh nhai, lập nghiệp, đồng thời thoát khỏi cảnh chiến tranh, cướp bóc và nghèo đói tại chính quê hương mình.

Tiền đề mở đầu cho công cuộc khai phá miền Nam bắt đầu từ cuộc hôn nhân của công chúa Ngọc Vạn (con gái của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên) với vua Chân Lạp là Chey Chetta II vào năm 1620, cuộc hôn nhân đã kết tình giao hảo giữa xứ Đàng Trong với vương quốc Chân Lạp. Năm 1623, chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã cho một đoàn sứ bộ đến Chân Lạp xin vua Chey Chetta II cho đặt các sở thu thuế tại Prei Nokor và Kas Kobei (vùng đất Sài Gòn, Đồng Nai, Bà Rịa ngày nay) và cho phép lưu dân Việt vào sinh sống. Không lâu sau đó, nơi đây đã trở thành một thị tứ sầm uất, là địa điểm dừng chân nghỉ ngơi của các thương nhân người Việt với Xiêm La và Chân Lạp. Sự có mặt rất sớm của lưu dân người Việt tại đây đã tạo tiền đề cho công cuộc Nam tiến của dân tộc sau này.

Năm 1658, Nặc Ông Chân xâm phạm biên giới, chúa Nguyễn đã sai phó tổng Trấn Biên(1)  là Tôn Thất Yên và các tướng tùy tùng đem 2000 quân đánh thành Hưng Phước (Mô Xoài), bắt được Nặc Ông Chân. Chúa Hiền tha cho nhưng với điều kiện triều đình Chân Lạp làm phiên thần nộp cống và không cho dân xâm nhiễu nơi đây,“người Cao Miên sợ uy đức của triều đình, lại nhường mà tránh, không dám tranh giành ngăn trở” (2).

Đến năm 1674, Nặc Ông Đài cùng với quân Xiêm La tiến đánh Sài Gòn. Hiền vương Nguyễn Phúc Tần sai tướng Nguyễn Dương Lâm làm Thống suất đem binh tiến đánh, chiếm được Sài Gòn rồi tiến lên Nam Vang. Sau khi dẹp yên Nặc Ông Đài, chúa Nguyễn phong cho Nặc Thu làm quốc vương Chân Lạp, đóng đô ở Oudong; Nặc Non được phong làm đệ nhị vương đóng ở Sài Gòn, cả hai đều phải triều cống hằng năm.

Giữ thế kỉ XVII tại Trung Hoa, người Mãn Châu lật đổ nhà Minh và thành lập nhà Thanh, một số cựu thần nhà Minh không chịu phục tùng vương triều mới này đã cùng với những người thân của mình chạy sang Việt Nam, xin vào trú ngụ ở Đàng Trong.

Năm 1679, hai cựu thần của nhà Minh là Dương Ngạn Địch và Trần Thắng Tài (Trần Thượng Xuyên) đem quân lính và gia quyến khoảng 3000 người đến cửa biển Tư Dung, Đà Nẵng xin hàng phục chúa Nguyễn Phúc Tần. Mặc dù rất ngại sự có mặt của nhóm người Hoa này những sự thực lòng của họ, chúa Hiền đã cho họ vào khai phá vùng đất Gia Định ( vùng đất đã có lưu dân Việt sống trước đó). Điều này đã được Trịnh Hoài Đức ghi nhận trong Gia Đình Thành thông chí như sau: “Khi ấy vì ở Bắc Hà thường loạn, mà quân nước ấy từ xa đến, thực dối chưa rõ, huống chi lại ăn mặc khác, tiếng nói khác, cũng khó sai khiến, nhưng họ cùng quân đến theo, tiết trung bầy tỏ, nghĩa không thể dứt được. Vả lại địa phương Đông Phố (tên riêng của Gia Định ngày trước) ở nước Cao Miên, đồng lầy nghìn dặm, triều đình chưa rỗi kinh lý, không gì bằng nhân sức lực của chúng, cho vỡ đất mà ở đó, đó là một việc mà được cả ba”. Sau đó, chúa Nguyễn cho nhóm Trần Thắng Tài vào Biên Hòa  khai hoang, lập phố chợ và nhóm của Dương Ngạn Địch vào khai phá vùng đất Mỹ Tho, lập trang trại, thôn ấp.

Trước đó, năm 1671, một người tên là Mạc Cửu ở Quảng Đông (Trung Quốc) vì nhận thấy nhà Minh không thể phục hưng lại được nên chạy sang Chân Lạp, xin triều đình cho trú ngụ và khai phá vùng đất Mang Khảm (Hà Tiên). Từ đây, ông chiêu tập các lưu dân người Việt, Hoa đến làm ăn sinh sống và lập được 7 thôn xã. Trước tình hình bị giặc Xiêm quấy rối trong thời gian này, năm 1708, Mạc Cửu sai bọn Lý Xá và Trương Cần ra Thuận Hóa xin thần phục chúa Nguyễn, xin làm Hà Tiên trưởng. Chúa Hiển Tông chấp thuận và phong cho Mạc Cửu làm Tổng binh và trao ấn để giữ trấn Hà Tiên (3).

Năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu sai Thống suất Chưởng cơ (tước Lễ Thành hầu) Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược miền Nam, nhận thấy nơi đây đất đai trù phú, lưu dân người Việt đến đây sinh sống làm ăn đông đúc nhưng lại không có một đơn vị hành chính nào để tiện quản lý, kiểm soát vùng đất này. Vì vậy, ông cho “lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đặt ra các chức Cai bạ, Lưu thủ, Ký lục để giữ và chăm dân” (4). Như vậy, đây là lần đầu tiên trong lịch sử khai phá vùng đất mới Nam Bộ, triều đình đã đặt được nền hành chính trên vùng đất mới và cai quản đến nơi đây.

Năm 1731, lưu dân người Việt tại Gia Định lại bị người Chân Lạp tấn công, nhưng lần này do một tên người Lào là Sá Tốt chỉ huy. Chúa Nguyễn Phúc Chú cử Trương Phúc Vĩnh điều khiển binh đi đánh dẹp nhằm bảo vệ nhóm người Việt tại đây. Sau trận này, do bị chúa Nguyễn buộc tội Chân Lạp cho Sá Tốt mượn dân và quân lính, vua Chân Lạp là Nặc Tha chính thức nhường hai tỉnh Me Sa (Mỹ Tho) và Long Hork (Long Hồ) để xin được tha. Năm 1732, chúa Nguyễn cho đặt châu Định Viễn, lập dinh Long Hồ (5). Như thế, nền hành chính của chúa Nguyễn đã vươn tới đây.

Như vậy, kể từ khi nhóm lưu dân người Việt đầu tiên vào khai khẩn Nam Bộ vào thế kỉ XVII, đến nửa đầu thế kỷ XVIII, xứ Đàng Trong của chúa Nguyễn đã được mở rộng thêm được một vùng đất rộng lớn, trù phú ở phía Nam. Bằng những chính sách mềm dẽo và khôn khéo, với mục đích trên hết là bảo vệ lưu dân người Việt vào Nam sinh cơ lập nghiệp, chúa Nguyễn đã dần đặt được nền hành chính cai trị trên vùng đất mới này.

Chú thích:

(1) Gia Định Thành thông chí (GĐTTC) của Trịnh Hoài Đức chép: khi bắt đầu mở mang bờ cõi, những nơi ở đầu địa giới gọi là Trấn Biên, dinh Trấn Biên vào thời gian này chính là Phú Yên ngày nay.

(2) Trịnh Hoài Đức. Gia Định Thành thông chí

(3) Phan Khoang. Việt Sử xứ Đàng Trong.

Cũng ở Chi tiết này, GĐTTC của Trịnh Hoài Đức chép: Năm 1714, mùa thu, tháng 8, Sắc cho Mạc Cửu làm Tổng binh trấn Hà Tiên, tước Cửu ngọc hầu, bèn lập nên doanh ngũ, đóng ở địa phận Phương Thành, dân ngày về càng nhiều.

(4) Trịnh Hoài Đức. Gia Định Thành thông chí

(5) Theo Trịnh Hoài Đức chép trong GĐTTC: dinh Long Hồ sau này thuộc thôn An Bình Đông, huyện Kiến Đăng, tỉnh Định Tường ngày nay, tục gọi là dinh Cái Bè.

 

 

 

Trí Hải - K. Sư phạm

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.