Lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ được ghi nhận từ chuyến đi kinh lược của Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam năm 1698 theo lệnh chúa Nguyễn Phúc Chu. Gần 60 năm sau, một vị danh nhân khác của miền Trung đã thừa lệnh chúa Nguyễn Phúc Khoát theo bước của tiền nhân vào Nam tiếp nhận vùng đất Tầm Phong Long (tỉnh An Giang xưa), kết thúc quá trình Nam tiến vĩ đại của dân tộc. Đây chính là vùng đất cuối cùng chưa thuộc về Nam Bộ lúc bấy giờ và vị danh tướng đã đóng vai trò xác lập chủ quyền đất nước ta thời đó chính là Nguyễn Cư Trinh.

II. Nguyễn Cư Trinh với việc xác lập chủ quyền vùng đất Nam Bộ và An Giang giữa thế kỷ XVIII.

Trước khi Nguyễn Cư Trinh vào Nam, vùng đất Nam Bộ đã được mở rộng và sáp nhập vào xứ Đàng Trong đáng kể, duy chỉ còn vùng đất nằm ở phía Bắc Hà Tiên và phía Nam Gia Định từ Long Hồ trở vào là còn thuộc quyền cai quản của triều đình Chân Lạp. Thực sự đã từ rất lâu nơi đây đã có người Việt đến sinh sống, triều đình Chân Lạp cũng không mấy quan tâm đến vùng đất này và cũng không cắt cử quan lại đến trông coi. Năm 1753, Nghi biểu hầu Nguyễn Cư Trinh phụng mệnh chúa Nguyễn Phúc Khoát vào Nam. Cũng chính từ giai đoạn này, bằng tài thao lược dụng binh, cùng với những chính sách quốc phòng, an sinh hiệu quả,  Nguyễn Cư Trinh đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình trong việc hoàn tất chính sách mở cõi của chúa Nguyễn về phương Nam, khẳng định chủ quyền lịch sử của dân tộc về biên giới quốc gia.

Chính sách “tàm thực” của Nguyễn Cư Trinh, một phương thức đối ngoại khôn khéo, thể hiện tầm nhìn chiến lược của một vị tướng tài giỏi trong việc mở rộng chủ quyền lãnh thổ của dân tộc.

Năm 1692, vua Chiêm Thành là Bà Tranh bị quân nhà Nguyễn đánh bại, một số người dân nước này chạy sang lánh nạn ở Chân Lạp nên gọi là người Côn Man. Những người Côn Man này bị người Chân Lạp đối xử rất tệ, đa số họ bị bắt làm nông nô; nạn cướp, giết người Côn Man lại thường xảy ra. Do người Côn Man trước kia đều là dân của nước Chiêm Thành, sau này bị sáp nhập vào biên giới của xứ Đàng Trong, vì vậy chúa Nguyễn nhận thấy mình phải có trách nhiệm bảo vệ quyền lợi cho họ. Năm 1753, chúa Nguyễn Phúc Khoát sai Nguyễn Thiện Chính, Nguyễn Cư Trinh đem quân vào đánh Chân Lạp để cứu thoát cho nhóm người Côn Man này.

Năm 1755, vua Chân Lạp là Nặc Nguyên thua trận và phải nương nhờ Mạc Thiên Tứ tại Hà Tiên. Đến năm 1756, Nặc Nguyên “xin hiến đất hai phủ Tầm Bôn, Lôi Lạp (vùng Tân An và Gò Công) và  nạp bù lễ cống ba năm trước còn thiếu để chuộc tội” (6). Chúa không chấp nhận, Nguyễn Cư Trinh liền tâu: “…. Muốn mở mang đất đai cũng nên lấy hai phủ này, trước để cũng cố mặt sau của hai dinh. Nếu bỏ gần, mưu xa, e rằng hình thế cách trở, binh dân không liên tiếp, lấy được tuy dễ mà giữ thì thật là khó. Trước kia, mở mang đất Gia Định tất phải mở trước đất Hưng Phước, rồi đến Đồng Nai, khiến quân dân đông đủ, rồi sau mới mở đến Sài Côn. Đó là cái kế ‘tằm ăn lá dâu’ ” (7). Trước lời phân tích rất thuyết phục của Nghi biểu hầu, chúa Nguyễn chấp nhận “thu lấy hai phủ ấy, ủy thần xem xét hình thế, đặt lũy đóng binh, cấp điền sản cho quân, dân, vạch rõ địa giới, cho lệ thuộc châu Định Viễn để thu lấy toàn thể vùng đất ấy” (8).

Như vậy, với chính sách “tàm thực”, Nguyễn Cư Trinh đã giúp cho chúa Nguyễn thu về hai vùng đất mới, tạo điều kiện cho lưu dân người Việt yên tâm làm ăn, gây dựng sự nghiệp. Đồng thời, việc sáp nhập hai vùng Tầm Bôn và Lôi Lạp vào châu Định Viễn đã giúp cho hệ thống cai trị hành chính của triều đình vươn xa thêm về phía Nam.

Nguyễn Cư Trinh đã để lại dấu ấn lớn trong lịch sử dân tộc với việc đưa mảnh ghép địa giới cuối cùng vào lãnh thổ Đại Việt. Riêng đối với đất Nam Bộ, ông đã hoàn thành sứ mệnh xác lập chủ quyền biên giới và bước đầu xây dựng nền hành chính vững vàng tại vùng đất mới này.

Năm 1757, Nặc Nguyên mất, chú họ là Nặc Nhuận thay quyền trông coi việc nước. “Quan phụ trách Gia Định tâu xin nhân đó lập lên để tỏ ý ban ơn và để cho biên giới được giữ vững” (9), Nặc Nhuận vì thế mà xin dâng hai phủ Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre) và Ba Thắc (Sóc Trăng, Bạc Liêu) cho chúa Nguyễn. Không lâu sau khi lên ngôi vua, Nặc Nhuận lại bị con rễ là Nặc Hinh giết để cướp ngôi. Trước sự bất ổn triều chính của Chân Lạp, chúa Nguyễn cho Thống suất Trương Phúc Du tiến đánh Nặc Hinh, rồi lập con của Nặc Nhuận là Nặc Tôn lên làm vua Chân Lạp. Để tạ ơn, Nặc Tôn xin hiến đất Tầm Phong Long (nằm giữa sông Tiền và sông Hậu) cho chúa Nguyễn.

Như vậy, Tầm Phong Long (còn gọi là Kampong luôn hay Tầm Phong Xuy) là vùng đất cuối cùng được nhập vào lãnh thổ nước ta. Việc tiếp nhận Tầm Phong Long còn mang một ý nghĩa lớn lao khác, đó là tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của tỉnh An Giang sau này.

Ngoài công lao lớn đối với lịch sử dân tộc, Nguyễn Cư Trinh còn là một vị danh nhân của vùng đất An Giang nói riêng khi ông đã có công lớn trong việc đặt cơ sở hành chính, cũng cố quốc phòng và chiêu mộ lưu dân đến sinh sống tại đây. Tất cả những yếu tố đó đặt nền tảng cho sự hình thành tỉnh An Giang về sau, vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng của miền biên ải, địa đầu cực Tây Nam của Tổ quốc.

Sau khi Nặc Tôn hiến đất Tầm Phong Long, Võ vương Nguyễn Phúc Khoát đã cử Nguyễn Cư Trinh và Trương Phúc Du vào tiếp nhận và đặt nền hành chính trên vùng đất mới này. Phúc Du và Cư Trinh tâu với chúa Nguyễn “dời dinh Long Hồ về xứ Tầm Bào (nay là thôn Long Hồ, tức là tỉnh lỵ Vĩnh Long). Lại đặt đạo Đông Khẩu ở xứ Sa Đéc, đạo Tân Châu ở Tiền Giang, đạo Châu Đốc ở Hậu Giang, lấy quân dinh Long Hồ để trấn áp”  (10).

Việc lập ra các đạo tại các địa điểm trọng yếu trên cũng không nằm ngoài mục đích cũng cố biên thùy, bảo vệ cho các lưu dân khẩn hoang, sinh sống tại đây. Tại khu vực thượng nguồn sông Tiền, đạo Tân Châu có đồn quân lính đóng ở Koh Teng, tức Bãi Dinh (Cù lao Giêng ngày nay, sau dời về thôn Long Sơn); đạo Châu Đốc ở thượng nguồn sông Hậu có đồn quân đóng ở Mok Chruk (tức Châu Đốc); hai đạo này nằm ở vị trí án ngữ dinh Long Hồ, đồng thời Nguyễn Cư Trinh cho đặt đạo Đông Khẩu ở phía nam, đồn quân đóng ở Phsar Dek (Sa Đéc) làm hậu thuẫn cho hai đạo tiền phương,  cả ba đạo tạo thành tam giác có nhiệm vụ phòng giữ vùng đất mới này.

Sau khi hoàn thành việc xác lập nền hành chính mới, đồng thời để tạo điều kiện cho lưu dân người Việt đến sinh sống, khai hoang, Nguyễn Cư Trinh đã thực hiện việc tổ chức an sinh vùng đất mới này. Lúc đầu khi mới tiếp nhận vùng đất này, những vùng dọc biên giới là nơi cư trú của người Khmer bản địa, còn những vị trị dọc các bờ sông Tiền và sông Hậu chỉ có vài thôn xóm nhỏ lẻ của người Việt, chủ yếu là gia đình các binh sĩ ở lại đây. Về sau, khi việc quản lý trật tự và ổn định về mặt hành chính được vững vàng, cùng với điều kiện tự nhiên thuận lợi, nguồn tài nguyên phong phú, lưu dân người Việt đến sinh cơ lập nghiệp ngày càng đông đúc thông qua chính sách khẩn hoang của chúa Nguyễn. Ví như tại Bãi Dinh (Cù Lao Giêng) được Trịnh Hoài Đức miêu tả như sau: “ở đây có nhiều đầm chằm ruộng cá, lũ lượt, cứ 15 người làm thành một đoàn, rẽ bùn phát cỏ, bắt cá để làm mắm hay phơi khô, chém nứa làm bè, đem bán các nơi, đều nhờ được lợi tự nhiên”  (11).

Để tránh nạn cướp bóc cho các thuyền buôn, đảm bảo sự thông thương buôn bán trên sông rạch ở vùng đất mới,  Nguyễn Cư Trinh “bày ra lệ bắt thuyền các Hạt, bất luận lớn nhỏ, trước mũi phải khắc tên họ, quê quán, chủ thuyền và ghi bộ quan sở tại để tiện tra xét” (12).

Dưới thời vua Gia Long, ông đã đổi vùng đất Tầm Phong Long này thành Châu Đốc tân cương. Đại Nam nhất thống chí mục tỉnh An Giang có chép: “vì đất ấy nhiều chỗ bỏ hoang, đầu dời Gia Long mộ dân đến ở, gọi là Châu Đốc tân cương”, một yếu tố góp phần khẳng định công lao của Nguyễn Cư Trinh với việc xác lập vùng đất An Giang ở giữa thế kỷ XVIII.

Tài năng quân sự của Nguyễn Cư Trinh đối với cả vùng đất Nam Bộ nói chung và An Giang nói riêng còn được thể hiện ở phương pháp “dĩ địch chế địch” để phòng giữ các vị trí ở miền biên giới và ở những vị trí thường xuyên bị người Chân Lạp quấy phá, đồng ông cũng đã tổ chức cho những người Chăm sống ở Chân Lạp trở về quê nhà sinh sống (kể từ khi Chiêm Thành bị sáp nhập vào Đại Việt) trên những  vùng đất mới khai phá này.

Năm 1755, khi tiến đánh Chân Lạp để giải cứu người Côn Man bị ức hiếp, Nguyễn Cư Trinh đã cho 5000 người Côn Man về đóng ở chân núi Bà Đinh (núi Bà Đen, Tây Ninh) (13). Năm 1756, khi tiếp nhận vùng đất Tầm Bôn và Lôi Lạp, Nguyễn Cư Trinh đã từng tâu với chúa Nguyễn cho người Côn Man trấn giữ nơi đây: “Thần thấy rợ Côn Man đánh đường bộ rất tài, quân Chân Lạp cũng đã chột dạ. Nếu cho rợ Côn Man ở đấy, sai nó ngăng chống, lấy mọi đánh rợ, cũng là kế hay” (14). Năm 1757, sau khi tiếp nhận Tầm Phong Long và đặt nền hành chính cai quản nơi đây, ông cũng đã bố trí cho người Côn Man đến trấn thủ.

Theo Biên niên sử An Giang có chép thì vào năm 1775, Nguyễn Cư Trinh đưa một số người Chăm từ Chân Lạp về định cư ở núi Bà Đen (Tây Ninh), Hồng Ngự, Châu Giang,...

Như vậy, đến giữa thế kỷ XVIII, công cuộc Nam tiến vĩ đại của dân tộc kết thúc, toàn cõi Nam Bộ được sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt bằng những biện pháp khôn khéo của những bậc tiền nhân, người đảm nhận sứ mệnh lịch sử cuối cùng trong việc khẳng định chủ quyền lãnh thổ của dân tộc không ai khác chính là Nguyễn Cư Trinh. Ngoài công lao đối với vùng đất Nam Bộ, ông còn đặt dấu ấn rõ nét đối với vùng đất An Giang xưa và nay, góp phần khẳng định chủ quyền của vùng đất này, tạo điều kiện, tiền đề cho những bậc nhân tài về sau tiếp tục đóng góp công lao của mình cho sự hình thành và phát triển của tỉnh An Giang cho đến hôm nay.

Chú thích:

(6) (7) (8) Nguyễn Phan Khoan. Việt Sử xứ Đàng Trong.

(9) Trịnh Hoài Đức. Gia Định Thành thông chí

(10) Quốc Sử quán triều Nguyễn. Đại Nam Thực Lục, tập 1, NXB GD, 2006.

(11)  Trịnh Hoài Đức. Gia Định Thành thông chí

(12) Vương Hồng Sển. Sài Gòn năm xưa

(13) Trịnh Hoài Đức. Gia Định Thành thông chí

(14) Vương Hồng Sển. Sài Gòn năm xưa

 

Trí Hải - K. SP

  • Nguyễn Cát Tường

    Thưa thầy!
    Có 1 điều em không hiểu: 1. Với công lao to lớn như vậy, vì sao ở An Giang nói riêng, Nam Bộ nói chung có rất ít cơ sở thờ tự, con đường mang tên Nguyễn Cư Trinh?; 2. Quan điểm của thầy về: Tác phẩm Sãi Vãi có phải là của Nguyễn Cư Trinh hay không?

  • TTH

    Những vấn đề của bạn tôi sẽ giải đáp rõ ràng và cụ thể hơn nếu bạn liên hệ với tôi qua email này nhe thaitrihai@yahoo.com
    Thân chào bạn!

  • Nguyễn Cát Tường

    Thưa thầy!
    Thầy đang vi phạm 1 nguyên tắc của bất cứ diễn đàn nào: Nguyên tắc chia sẽ rộng rãi thông tin. Điều em không biết cũng là thắc mắc của nhiều người khác. Một câu trả lời công khai và kịp thời sẽ thuyết phục và hữu ích hơn.
    Mong thầy hiểu những dòng này của em được viết ra sự sự tôn trọng và cầu thị.
    Em mong hồi âm của thầy!

  • TTH

    Tôi thành thật xin lỗi bạn! Bạn đang đọc trang báo điện tử của trường ĐHAG chứ không phải là diễn đàn Sử học. Có lẽ bạn đã nhầm với một diễn đàn Sử học nào chăng!
    Vì không phải là diễn dàn nên tôi không thể trao đổi nhiều với bạn. Bạn nên xem lại ý kiến của mình!
    Tôi sẵn sàng chia sẽ và trao đổi những điều tôi biết và tiếp thu những điều chưa biết từ bạn và tất cả mọi người.Nếu đây là một "DIỄN ĐÀN" thì tôi sẽ trao đổi với bạn nhiều hơn, nhưng mong bạn thông cảm vì đây là một trang báo điện tử của một trường Đại học bạn ạ!
    Nếu email của bạn là thật! Tôi sẽ gửi email hồi âm cho bạn ngay! Hẹn gặp lại bạn và hy vọng gặp trực tiếp để chúng ta có thể trao đổi nhiều hơn!
    Thân chào bạn!

  • BBT eNews

    Do giới hạn về nội dung của phần ý kiến bạn đọc, eNews không thể đăng tải toàn bộ câu trả lời của thầy Trí Hải về vấn đề mà bạn Cát Tường thắc mắc. eNews mong bạn Cát Tường hãy cung cấp địa chỉ email thật để thầy Hải liên lạc và trả lời cho bạn. Lưu ý: eNews không phải là một diễn đàn để tranh luận các vấn đề bạn Tường ạ!

  • Nguyễn Cát Tường

    Địa chỉ email của em là hctxd1986@yahoo.com.vn. Hai lần trước em viết thiếu ".vn" trong địa chỉ email nên thầy và Ban Biên tập gửi không được. Em xin lỗi!
    Sau khi nhận được câu trả lời của thầy, cho phép em phổ biến rộng rãi nội dung.
    Em cảm ơn thầy!

  • trần quốc việt

    Kính mong nhờ thầy giú dùm em phần chú giải 6,7,8 nằm trong sách của tác giả Phan Khoan, Việt sử xứ Đàng Trong. Vậy thầy có thể cho biết là sách này xuất bản năm bao nhiêu và tên nhà xuất bản.... và số ttrang để trích lục ra những vấn đề nêu trên. Em xin chân tha2nhca3m ơn và chờ hồi âm của thầy. Vì em đang làm luận văn tốt nghiệp liên quan đến vấn đề này ạ