Nam bộ - vùng đất anh hùng, bất khuất trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Nơi sinh ra và nuôi dưỡng những người con ưu tú cho tổ quốc, những chiến sĩ cách mạng kiên trung, đầy nhiệt quyết và trong đó có bà Nguyễn Thị Định – vị nữ tướng quân đầu tiên, người con ưu tú của quê hương xứ dừa. Tên tuổi của bà gắn với phong trào Đồng Khởi – Bến Tre, là một trong những người trực tiếp chỉ huy trận đánh, người sáng tạo ra cách đánh giặc bằng ba mũi giáp công và thành lập nên “đội quân tóc dài”. Bà là niềm tự hào của nhân dân Bến Tre nói riêng và của cả dân tộc Việt Nam nói chung.

Bà Nguyễn Thị Định sinh ngày 15/2/1920 tại xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Là con út (với 10 anh em) trong một gia đình nông dân giàu lòng yêu nước và làm cách mạng. Do điều kiện gia đình khó khăn, trường học lại ở xa nhà nên từ nhỏ bà không được đi học như bao người cùng trang lứa. Người anh thứ ba trong gia đình (Ba Chẩn) – một nhà yêu nước trẻ, tham gia các hoạt động cách mạng ở địa phương, vì quá thương cô em gái nên ông quyết định dạy cho cô Út Định học ở nhà để biết cái chữ với người ta. Với bản chất thông minh, nhanh nhẹn, bà học rất giỏi, tiếp thu nhanh và hiểu sâu sắc những điều anh mình dạy, khiến mọi người rất ngạc nhiên.

1. Những năm tháng tham gia hoạt động cách mạng ở địa phương

Bên trong dáng người yếu đuối, nhỏ bé của cô gái mới mười mấy tuổi đầu là cả một tâm hồn cao thượng, sự mạnh mẽ và một lý tưởng to lớn. Sống trong một xã hội đầy những sự bất công,hằng ngày lại phải chứng kiến cảnh anh ba bị đánh đập dã man trong tù đã làm cho bà (Nguyễn Thị Định) càng thêm oán hận bọn giặc cướp nước, càng thêm yêu đồng bào tổ quốc hơn. Dần dần, bà hiểu thế nào là nỗi nhục mất nước, nỗi đau khi dân tộc bị mất độc lập tự do và giác ngộ được vì sao chúng ta  phải làm cách mạng, chỉ có cách mạng mới giải phóng được đồng bào ta. Đây là những cơ sở đầu tiên để Bà bắt đầu bước vào con đường hoạt động cách mạng đầy gian truân.

Năm 1936, vừa tròn 16 tuổi Nguyễn Thị Định bắt đầu tham gia các hoạt động cách mạng. Tháng 10/1938, chính thức đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng Sản Đông Dương. Đây cũng là thời gian Bà lập gia đình cùng ông Nguyễn Văn Bích – tỉnh ủy viên tỉnh Bến Tre, hai người có với nhau một cậu con trai tên là On (tên khai sinh Nguyễn Ngọc Minh). Chẳng bao lâu thì ông Bích bị giặc vây bắt kết án tù đày ra Côn Đảo và ông hy sinh ở đấy.

Ngày 19/7/1940, Nguyễn Thị Định và đứa con mới 7 tháng tuổi bị mật thám vây bắt tại nhà khi chuẩn bị thoát ly gia đình để tham gia hoạt động cách mạng tại tỉnh nhà (vì từ lúc ông Bích bị bắt bà vừa nuôi con nhỏ, vừa làm cách mạng và luôn là đối tượng bị địch theo dõi chỉ có thoát ly bà mới hoàn thành tốt nhiệm vụ cách mạng của mình). Chúng đưa hai mẹ con giam ở Khám Lá – một nhà lao lớn của tỉnh Bến Tre, nơi giam giữ những ai mà giặc nghi là Việt Cộng và chúng  buộc bà phải gửi con về nhà trước khi đày lên trại giam Bà Rá (tỉnh Sông Bé). Tháng 9/1940, thực dân Pháp chuyển bà lên một trại giam ở Sài Gòn sau đó đưa bà lên nhà tù Bà Rá. Đây cũng là nơi giam ông Bích trước khi đày ra Côn Đảo.

Nhà tù Bà Rá, thuộc tỉnh Sông bé (nay là Bình Phước) nơi được mệnh danh là rừng thiêng nước độc, vắng vẻ hoang sơ với đủ các loài thú nguy hiểm: vắt, voi, cọp,… Năm 1940, do các khám đông chật tù chính trị, chúng lập thêm hai căng, một cho nam, một cho nữ. Nguyễn Thị Định được xếp vào khu nhà B - nơi dành riêng cho tù chính trị nữ. Ở đây, mọi người gọi bà bằng cái tên thân mật: Ba Bích - tên người chồng đã bị đày ra Côn Đảo.

Bị giam giữ ở một nơi không kém gì với chốn địa ngục trần gian (Côn Đảo) ngày ngày phải lao động khổ sai, chịu những trận đòn tra tấn, đánh đập lại phải luôn cảnh giác trước sự trêu chọc của bọn cai tù đối với các nữ tù nhân, và những nguy hiểm xung quanh như cọp, báo, bệnh sốt rét,… nhưng Ba Bích vẫn mạnh mẽ, cứng rắn và đầy bản lĩnh, bà luôn là trung tâm đoàn kết và đấu tranh của anh chị em tù nơi đây, luôn làm cho bọn cai ngục phải điên đảo, lo sợ. Chúng bày ra đủ trò tàn ác để hạ nhục ý chí của bà cũng như răn đe người khác nhưng đều thất bại. Những trận đòn roi không thể nào đánh gục được ý chí người phụ nữ kiên trung, gan góc này. Nhưng căn bệnh tim ngày càng trở nặng, Ba Bích liên tục bị ngất chị em nữ tù đã phải đấu tranh quyết liệt với bọn sếp Tây. Cuối cùng, bà được chuyển về điều trị tại nhà thương Biên Hòa.

Năm 1943, Ba Bích (Nguyễn Thị Định) được bọn thực dân pháp đưa về quản thúc tại đại phương. Ba năm bị giam giữ ở Bà Rá, là 3 năm hoạt động kiên cường, bất khuất, nơi đây đã rèn luyện và hun đúc thêm ngọn lửa quyết tâm lòng yêu nước trong bà. Sống và làm việc với các anh chị, những chiến sĩ cách mạng kiên trung giúp bà hiểu sâu sắc hơn về tinh thần cách mạng, sức mạnh của đoàn kết và sứ mệnh thiêng liêng của những người làm cách mạng.

Năm 1944, phong trào Việt Minh phát triển mạnh, bà bắt được liên lạc với tổ chức Đảng, chính quyền cách mạng của tỉnh và tham gia đấu tranh giành chính quyền vào tháng 8/1945. Trong cách mạng tháng Tám bà là người cầm cờ dẫn đầu hàng ngàn đồng bào tay dao, tay gậy, cờ băng biểu ngữ rầm rộ tiến về chiếm thị xã Bến Tre. Sau khởi nghĩa giành thắng lợi, Nguyễn Thị Định được tổ chức giữ lại công tác ở cơ quan phụ nữ tỉnh. Cuối năm 1964, Nguyễn Thị Định được bầu làm Ủy viên Ban chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ tỉnh Bến Tre. Thời gian hoạt động cách mạng không lâu nhưng nhờ có ý chí kiên cường, lòng yêu nước nồng nàn, thông minh nên bà được tỉnh ủy chọn làm thuyền trưởng chuyến đầu tiên vượt biển ra Bắc báo cáo với Đảng và Bác Hồ về tình hình chiến trường Nam Bộ sau hiệp định sơ bộ 6/3/1945 và xin chi viện vũ khí cho miền Nam. Trong chuyến đi này Nguyễn Thị Định và các đồng chí đi cùng được vinh dự đến chúc thọ Bác Hồ (19/5), năm đó bà vừa tròn 26 tuổi.

Bằng lòng quả cảm, mưu trí bà và đồng đội của mình đã khéo léo vượt trùng dương đưa 12 tấn vũ khí chi viện cho miền nam một cách an toàn. Chuyến đi đã đạt được những kết quả vô cùng to lớn, vừa giúp trung ương Đảng và Hồ chủ tịch nắm rõ tình hình chiến sự, vừa mang về một lượng vũ khí khổng lồ góp phần không nhỏ vào những thắng lợi lớn của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất đất nước sau này.

 Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hiệp định Geneve được ký kết tình hình chiến trường tạm lắng đi, bà Ba Định – Nguyễn Thị Định trở lại miền Nam tiếp tục tham gia hoạt động đấu tranh và gửi cậu con trai On của mình ra Bắc học tập. Nào ngờ lần chia tay ấy cũng là lần cuối cùng bà gặp con. Ngày 4/5/1960, On mất vì bạo bệnh, lòng người mẹ trẻ đau đớn biết bao khi niềm hy vọng, chỗ dựa duy nhất đã mất. Gạt đi nỗi đau bà lao vào công việc tiếp tục tham gia chiến đấu, từ nay Bà đã dành trọn cuộc đời mình cho tổ quốc, cho dân tộc.

2. Tài mưu lược, quyết đoán của vị nữ chỉ huy Đồng khởi – Bến Tre.

Những năm Hiệp định Geneve bị vi phạm sau khi ký kết, Mỹ thay chân Pháp chiếm miền Nam Việt Nam, cán bộ cách mạng ở các cơ sở kháng chiến cũ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật, nhiều chi bộ của ta bị xóa trắng. Nguyễn Thị Định trở thành cái tên quan trọng hàng đầu mà bọn mật thám tìm kiếm. Bà phải đóng giả nhiều nghề, làm đủ các công việc và nhờ vào sự bảo bọc che chở của bà con để tránh sự bắt bớ, truy lùng gay gắt của giặc.

Cuối năm 1959, Mỹ - Diệm cho xây khu trù mật ở Bến Tre với ý đồ thâm độc là gom tất cả gia đình có người đi tập kết, cán bộ thoát ly đi làm cách mạng và đồng bào yêu nước vào nơi địa ngục trần gian này. Với đạo luật 10/59, chúng tàn sát đồng bào ta gieo đau thương tang tóc cho dân nghèo, máy chém lê đi khắp miền Nam để giết chóc, khủng bố cán bộ những người làm cách mạng, nhà tù mọc nhiều hơn trường học. Lúc này, Bến Tre đang trong cảnh dầu sôi lửa bỏng, cùng cực vô cùng Mỹ - Diệm còn thi hành hàng loạt các chính sách thâm độc, ra lệnh bắt giết những ai mà nghi là Việt cộng.

Trong lúc khó khăn này thì Nghị quyết 15 của Đảng đã được thông qua, chủ trương phát động nhân dân toàn miền Nam đấu tranh chính trị có kết hợp với vũ trang. Điều này đã tạo nên niềm phấn khởi lớn cho đồng bào Nam Bộ. Thời cơ đã đến dùng đấu tranh vũ trang để đánh đỗ ách thống trị giải phóng dân tộc, muốn giành thắng lợi nhất định phải tổ chức đồng loạt ở các địa phương.

Do bị càng quét liên tục nhiều cơ sở và tỉnh ủy Bến Tre phải chuyển dời đi nhiều nới để bảo toàn căn cứ, lực lượng. Mất liên lạc với tổ chức, phải khó khăn lắm Ba Định mới tìm được một số thành viên trong tỉnh ủy. Trước tình thế vô cùng cấp bách lúc bấy giờ, sợ bỏ lỡ thời cơ đồng khởi tiến công, các cán bộ cốt cán ở địa phương đều nhất trí dùng đấu tranh vũ trang để giải phóng đồng bào và cũng là cách duy nhất để bắt liên lạc với Tỉnh ủy: “Dứt khoát phải làm ngay mới kịp, và ta cứ nổi dậy rồi tức khắc bắt được liên lạc cho mà xem” (trích hồi ký KHÔNG CÒN ĐƯỜNG NÀO KHÁC của Nguyễn Thị Đinh).

Các đồng chí kiên trung năm ấy (Ba Định, Sáu Huấn, Hai Thủy - ủy viên thường vụ tỉnh,Ba Đào – xã đội trưởng, Ba Cầu – cán bộ huyện Mỏ Cày,…) đã thắp lên ngọn lửa Đồng Khởi mãi đi vào lịch sử. Khắc phục mọi thiếu thốn khó khăn về lực lượng, trang thiết bị vũ khí, cả chỉ huy đến từng chiến sĩ đều một lòng quyết chiến và quyết giành thắng lợi:

“Về tổ chức, thành lập ra những tổ hành động gồm các đồng chí và quần chúng trung kiên, võ trang bằng dáo mác để trừ gian, diệt ác. Thanh niên ở xã này đưa qua hoạt động ở xã khác để giả làm bộ đội chủ lực về. Làm nhiều súng cây, súng bập dừa đủ loại, may nhiều bao súng, may đủ thứ cỡ đại, cỡ tiểu làm như ta có đông bộ đội lắm, địch mới sợ.

Về chính trị, chủ trương xây dựng một lực lượng nòng cốt công khai hợp pháp để đi phát động quần chúng rộng rãi. Thâu nạp những người tốt vào tổ chức cách mạng làm cho lực lượng quân sự và chính trị của ta phát triển mạnh để có điều kiện tiến công liên tục, giành thắng lợi liên tiếp.

Đề ra các khẩu hiệu:

-         Đánh, phải đánh tới tấp!

-         Phát triển, phát triển hết khả năng, không hạn chế!

-       Khi song gió nổi lên, thuyền phải mạnh dạn căng buồm lướt sóng!”

(Trích hồi ký KHÔNG CÒN ĐƯỜNG NÀO KHÁC của Nguyễn Thị Định)

Với sự chỉ huy quyết đoán, sáng suốt của bà Ba Định đã chuyển quân ta từ thế bị động sang phòng thủ và chủ động trong tấn công, sử dụng chiến thuật đánh giặc bằng ba mũi giáp công: chính trị, vũ trang và binh vận (đội quân tóc dài) đã đưa phong trào  đi đến thắng lợi vẻ vang. Phong trào đã tạo nên một làn sóng đấu tranh mạnh mẽ trên khắp chiến trường miền Nam, tên tuổi của bà và “đội quân tóc dài” gắn chặt với Đồng Khởi từ đó.

 Tham khảo:

1. Thạch Phương. Nhớ Chị Ba Định. Nxb Khoa học xã hội. Hà Nội. 1993

2. Nguyên Hùng. Nam bộ - những nhân vật một thời vang bóng

 

Mỹ Ngọc - DH11SU

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.