Cứ vào ngày 27 đến 29 tháng 8 âm lịch hằng năm, nhân dân Kiên Giang và các tỉnh lân cận đều tấp nập đổ về thành phố Rạch Giá để tham gia lễ hội lớn của tỉnh Kiên Giang và thắp một nén nhang để tưởng nhớ đến vị anh hùng của dân tộc Nguyễn Trung Trực. Ông (Nguyễn Trung Trực) vốn không phải sinh ra trên vùng đất Nam Bộ nhưng công lao của ông với vùng đất này đều được nhân dân ghi nhận và tưởng nhớ. Được xem như một trong những người đi đầu trong phong trào chống Pháp cuối thế kỉ XIX ở Nam Bộ, ông đã dành cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đánh giặc giành lại yên bình cho nhân dân và hy sinh khi chỉ 30 tuổi.

Ông vốn sinh ra ở xóm Lưới, thôn Vĩnh Hội, tổng Trung An, huyện Phù Cát, trấn Bình Định (ngày nay là thôn Vĩnh Hội, xã Cát Hải, huyện Phù Cát), dưới thời vua Minh Mạng. Cha là Nguyễn Văn Phụng, mẹ là bà Lê Kim Hồng, ông tên thật là Chơn, tính tình rất ngay thẳng chính vì vậy thầy dạy học đã đặt thêm tên cho ông là Nguyễn Trung Trực. Thuở nhỏ ông rất hiếu động và thích học võ nên lớn lên ông rất khỏe mạnh, can đảm và mưu lược.

Khi Pháp đánh vào vùng duyên hải Trung Bộ, ông và gia đình di cư vào Nam, định cư ở một làng chài ở Long An sống bằng nghề chài lưới ở hạ lưu sông Vàm Cỏ. Chính nơi này ông đã lập một chiến công hiển hách gắn liền với cái tên Nguyễn Trung Trực, đó là đốt tàu của Pháp trên vàm Nhựt Tảo, con tàu mang tên  L’Espérance. Tàu  L’Espérance được làm bằng gỗ bọc đồng chạy bằng hơi nước được trang bị đại bác cùng nhiều vũ khí đa năng là một trong những tàu bậc nhất của Pháp lúc bấy giờ.

Diễn biến trận Nhật Tảo: khoảng trưa ngày 10 tháng 12 năm 1861 có năm chiếc ghe trong đó có một chiếc chở Nguyễn Trung Trực giả làm đoàn tàu buôn lúa (có người cho rằng là giả làm tàu đám cưới) đí về hướng tàu  L’Espérance. Tên lính trực tưởng rằng tàu đến xin phép lưu thông nên đã không đề phòng, đưa nửa người ra để nhìn, nhưng không ngờ bị nghĩa quân đâm trúng ngực. Sau đó nghĩa quân tràn lên thuyền mang theo vũ khí và đuốc, quân ta mai phục sẵn cũng tràn ra đánh xáp lá cà với quân thủy Pháp. Bị đánh bất ngờ và trong thế bị động nên Pháp đã bị thua và kết quả là chiếc  L’Espérance bị nghĩa quân đánh chìm.

Sau trận này Pháp bị thua nặng 17 lính và cộng sự bị giết về phía ta chỉ bị thiệt hại 4 người. Chiến thắng đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần của nhân dân ta thời đó, tin chiến thắng lan ra đến Huế và được vua Tự Đức phong chức Quyền Sung Quản Đạo cho Nguyễn Trung Trực thời đó nhân dân còn hay gọi là Quản Chơn.

Chiến công thứ hai của ông là ở đồn Kiên Giang. Sau hiệp ước Nhâm Tuất 1862 ba tỉnh miền Đông bị lọt vào tay Pháp, lúc này Nguyễn Trung Trực nhận chức Lãnh binh về miền Tây, năm 1867 ông được triều đình phong làm Hà Tiên Thành ủy Úy nhưng chưa kịp đến nơi nhậm chức Hà Tiên đã bị Pháp chiếm. Sau đó triều đình ra lệnh cho ông rút về Bình Thuận nhưng ông đã không tuân theo mà ở lại chiến đấu ở vùng đất Nam Bộ, cụ thể là tại Kiên Giang. Nguyễn Trung Trực đã lập căn cứ kháng chiến ở khu Sân Chim (tả ngạn sông Cái Lớn, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang), ngoài ra ông còn lập thêm căn cứ ở Hòn Chông. Từ đó ông đi thăm dò và vận động quần chúng yêu nước tham gia vào nghĩa quân của mình, có lần Nguyễn Trung Trực gặp được Lâm Quang Ky ở Tà Niên (hiện nay Lâm Quang Ky được đặt tên cho một con đường ở thành phố Rạch Giá) và quyết định gia nhập đội quân của Nguyễn Trung Trực. Sau khi nắm được tình hình của địch, Nguyễn Trung Trực quyết định mở cuộc tấn công vào đồn địch ở tại Rạch Giá được xem như trung tâm đầu não của tỉnh. Nửa đêm 16 tháng 6 năm 1868, nghĩa quân bắt đầu hành động đầu tiên, ông cho thuyền theo cặp bờ biển rồi đổ bộ lên bờ rạch Lăng Ông (Rạch Giá). Sau khi kết hợp với nghĩa quân ở Hòn Chông, nghĩa quân đã lẻn vào giết lính canh và phát lệnh tấn công. Do quân Pháp trong đồn lúc này đang ngủ say không kịp phản ứng nên nghĩa quân đã chiếm thành một cách nhanh chóng. Trong trận này Pháp bị tổn thất nặng nề nhưng tổn thất lớn nhất là đã để lực lượng nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực chủ động đánh chiếm Pháp ngay tại trung tâm đầu não của tỉnh, hay được tin dữ George Diirrwell đã gọi đây là “một sự kiện bi thảm”.

Hai chiến công này của Ông đã được danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt ca ngợi qua hai câu thơ nổi tiếng:

Hỏa hồng Nhật Tảo oanh thiên địa

Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần.

Hai ngày sau 18 tháng 6 bộ chỉ huy Pháp ở Vĩnh Long cho quân sang tiếp viện, ngày 21 tháng 6 Pháp chính thức phản công, do lực lượng địch và ta chênh lệch quá lớn và vũ khí hiện đại nên nghĩa quân đã không giữ được thành. Ông cho nghĩa quân rút về Hòn Chông, rồi ra đảo Phú Quốc và lập căn cứ kháng chiến ở Cửa Cạn (Phú Quốc), Pháp đã cho quân ra tận Phú Quốc bao vây và bắt ông tại đó.

Sau khi bắt được Nguyễn Trung Trực, Pháp đưa ông về khám lớn ở Sài Gòn để hỏi cung, đến ngày 30 tháng 10 năm 1868 chúng đưa ông về Rạch Giá để hành hình.

Người ta kể rằng:

Vào buổi sáng ngày 27 tháng 10 năm 1868, nhân dân Tà Niên nơi nổi tiếng về nghề dệt chiếu, và nhiều nơi khác đổ xô ra chợ Rạch Giá, vì Pháp đem Nguyễn Trung Trực ra hành quyết. Ông Trực yêu cầu Pháp mở trói, không bịt mắt để ông nhìn đồng bào và quê hương trước phút "ra đi". Bô lão làng Tà Niên đến vĩnh biệt ông, đã trải xuống đất một chiếc chiếu hoa có chữ “thọ”(chữ Hán) màu đỏ tươi thật đẹp cho ông bước đứng giữa. Ông hiên ngang, dõng dạc trước pháp trường, nhìn bầu trời, nhìn đất nước và từ giã đồng bào…

Trước khi hy sinh Ông đã nói một câu nói nổi tiếng: Bao giờ Tây nhổ hết cỏ trời Nam mới hết người Nam đánh Tây. Câu nói như khẳng định lại chủ quyền của dân tộc và thể hiện ý chí cũng như quyết tâm đánh đuổi quân xâm lược. Sau khi hành hình Nguyễn Trung Trực, chúng đem xác ông về an táng ở phía sau dinh Tỉnh Trưởng cũ (nay là Cung thiếu nhi TP. Rạch Giá, nằm kề bên UBND tỉnh Kiên Giang). Năm 1986, chính quyền Kiên Giang tìm được và đưa di cốt ông về khuôn viên đình thờ Nguyễn Trung Trực tại trung tâm thành phố Rạch Giá.

Tuy hy sinh khi chỉ 30 tuổi, chưa cống hiến hết sức mình cho tổ quốc nhưng những gì ông đã làm đều được nhân dân ghi nhận, hầu hết các tỉnh ở Nam Bộ đều có đền thờ Nguyễn Trung Trực và được nhân dân tôn kính như một vị thần. Ngày nay lễ hội đình Nguyễn Trung Trực đã trở thành một lễ hội lớn của nhân dân Kiên Giang nói riêng và nhân dân Nam Bộ nói chung. Là người con của mảnh đất Kiên Giang tôi không khỏi tự hào khi nói rằng Nguyễn Trung Trực là vị anh hùng của mảnh đất Kiên Giang và của cả dân tộc Việt Nam.

Cứ đến ngày giỗ cụ Nguyễn, tôi và gia đình lại nô nức về thành phố Rạch Giá để tham dự lễ hội văn hóa lịch sử này. Năm nay là lễ kỉ niệm 144 năm ngày mất của Nguyễn Trung Trực, đã 144 năm trôi qua và tâm nguyện giải phóng dân tộc của ông cũng được thực hiện, thế hệ trẻ Kiên Giang hôm nay đang ngày càng phấn đấu để đưa Kiên Giang được ngày một phát triển để không hổ hẹn với lòng khi đứng trước bàn thờ thắp một nén nhang cho ông, vị anh hùng dân tộc - Nguyễn Trung Trực.

Tham khảo:

Vĩnh Xuyên. Nguyễn Trung Trực - thân thế và sự nghiệp. Nxb Mũi Cà Mau

Tạp chí Xưa và Nay. Nguyễn Trung Trực - một Kinh Kha của miền Nam. Nxb Thời đại

Trần Thị Diễm - DH11SU

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.