In bài này 

Nghệ An - vùng đất địa linh văn vật, cái nôi sản sinh cho đất nước nhiều danh tướng, lương thần, nhiều nhà khoa học, nhà văn hóa lừng danh thế giới. Và cũng chính tại đây, dưới lũy tre Kim Liên, huyện Nam Đàn một con người đã ra đời, mà sau này chính tấm lòng yêu nước và gương xuất sử nho sĩ của ông đã trở thành bài học ái quốc vỡ lòng cho con trai mình, làm hành trang bước vào hành trình giải phóng đất nước, khai sinh một thời đại mới cho dân tộc. Ông chính là Nguyễn Sinh Sắc – thân sinh của chủ tịch Hồ Chí Minh.

“Kim Liên cả cánh sen vàng

Chào chàng nho sĩ đến làng Kim Liên”

Như biết bao thế hệ con người của vùng đất này - một vùng đất mà người ta gieo chữ cùng với hạt giống - Nguyễn Sinh Sắc có hai con đường để lựa chọn: một là đỗ đạt, hai là cuốc cày. Sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ, con đường của sự học đối với ông dường như mất lối nếu ông không phải là người hiếu học. Ông Nguyễn Sinh Vinh (thuộc đời thứ 13 dòng Nguyễn Sinh, cùng vai vế với Chủ tịch Hồ Chí Minh) nhớ lại: “Hồi xưa ông Sắc học giỏi lắm, đi chăn trâu cũng học, giã gạo cũng học…nghĩa là làm việc gì cũng quyển sách trên tay, học rất là thông minh”. Chuyện kể rằng, thuở thiếu thời, ông Nguyễn Sinh Sắc thường hay dắt trâu đến cột gần vườn nhà thầy đồ Dương Thúc Mậu – người sau này lãnh đạo dân Kim Liên khởi nghĩa và hi sinh năm 1886 – để nghe giảng sách. Trâu bị cột đói cỏ, còn ông càng nghe càng đói chữ. Tình cờ biết được hoàn cảnh và lòng khát học của ông nên cụ Hoàng Đường – một nhà nho có tâm và giàu chữ nghĩa đã nhận ông về làm học trò, và sau này đã gá nghĩa phu thê cho ông với con gái mình là bà Hoàng Thị Loan. Càng về sau, khi thấy vốn học của mình không còn đủ để dìu dắt cậu học trò nhiều thiên tư và hiếu học, cụ Hoàng Đường đã gửi ông đến học với một nhà nho uyên thâm nổi tiếng ở huyện Nghi Lộc là Nguyễn Thức Tự.

Năm 1894, ông Nguyễn Sinh Sắc đậu cử nhân kỳ thi Hương Giáp Ngọ.

Năm 1895, sau khi trượt kỳ thi Hội ông quyết định xin vào Quốc Tử Giám học để chuẩn bị cho khoa thi tiếp theo. Trường đặt ở quận Hương Trà, cách Kinh đô Huế 7km về hướng Tây. Trước kia, trường chỉ nhận dạy hoàng thân quốc thích, kể từ triều Tự Đức thì trường nhận thêm những cử nhân dự thi Hội trúng một kỳ theo chế độ ngoại trú. Hạng con cháu vua và các quan thì mỗi tháng được cấp 4 quan tiền, 3 phương gạo, một phương dầu. Hạng sau chỉ được cấp hai quan tiền và hai phương gạo.

Biết sẽ khó khăn, nhưng để cận kề, kềm cập các con, ông Sắc để con gái ở lại, đưa vợ và 2 con trai trẩy kinh. Khi đó cậu Nguyễn Sinh Cung mới 5 tuổi. Đi ròng rã một tháng họ mới tới được kinh đô Huế. Năm ấy, Huế gặp thiên tai rơi vào cảnh đói kém, cả nhà ông phải sống chật vật tại một ngôi nhà nhỏ, nay mang số 112 đường Mai Thúc Loan.

Ông Sắc vừa học vừa nhận dạy cho con các quan trong hoàng thành. Còn bà Loan thì dệt vải thuê mới trang trải nỗi bốn miệng ăn. Nhưng khoa thi Hội năm 1898 ông Sắc lại không đỗ, cũng có nghĩa là ông không còn được học tại Quốc Tử Giám. Không còn học bổng, bà Loan lại sinh người con thứ tư nên cảnh nhà càng gieo neo. Quyết theo đuổi nghiệp nghiên bút tới cùng, ông Sắc đã tìm cách thu xếp, quyết tiếp tục ở lại Huế học tập, chờ khoa thi Tân Sửu. Được Thượng thư Đào Tấn giới thiệu, ông Sắc dắt hai con trai đến làng Dương Nổ huyện Phú Giang dạy học tại nhà ông Nguyễn Sĩ Độ. Tuy không còn học ở Quốc Tử Giám, nhưng mỗi kỳ bình văn ở trường ông đều lặn lội về để dự thính. Ngoài công việc giảng dạy trên lớp, ban đêm ông Sắc kèm hai con mình học tới khuya. Chính trong thời gian ở làng Dương Nổ, Nguyễn Sinh Cung được học chữ Hán một cách đầy đủ nhất.

Dù chỉ là cử nhân trong kỳ thi Hương, nhưng do tiếng hay chữ nên ông Sắc được cử làm Đề lại trong kỳ thi Hương khoa Canh Tý năm 1900 tại Thanh Hóa. Cũng trong thời gian này, vợ ông – bà Hoàng Thị Loan đã ra đi khi mới 33 tuổi. Trong suốt 18 năm làm vợ, làm mẹ bà đã hết lòng lo toan mọi thứ để chồng yên chí theo nghiệp bút nghiên, đã nuôi dạy các con thành những người con ưu tú của dân tộc. Theo luật lệ của triều đình lúc bấy giờ, đám tang của người thường dân thì không được khóc và không được đưa thi hài qua cổng thành chính, nên thi hài của bà Loan được gánh bộ theo đường Mai Thúc Loan, luồng qua cổng Thăng Long đưa xuống thuyền và theo sông Đông Ba về sông Hương, sông An Cựu, gánh bộ lên chôn cất tại chân núi Tam Tầm.

Khoa thi Tân Sửu 1901, ông Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng với tên tự Nguyễn Sinh Huy. Cũng từ khoa này, triều Nguyễn cho người đỗ Phó bảng được nhận các đặc cách như Tiến sĩ, tức là được Vua ban cờ, biển và hưởng lễ vinh quy bái tổ - cái ước mơ tột đỉnh của đời nho sĩ. Nhưng ông Sắc thi đỗ chỉ vì ông không thể rớt sau cái chết của những người mà ông đã chịu ơn. Vì vậy Phó bảng Huy đã trở về trong lặng lẽ, rồi ở lại làng Chùa cùng các con cuốc cày trên mảnh ruộng nhà. Đến khi bà con Kim Liên xây cho ông một ngôi nhà để tỏ lòng biết ơn đối với người đã làm rạng danh cả làng thì ông và các con trai đã dọn về đó ở, còn con gái thì ông để lại để phụng dưỡng bà ngoại. Đã xa rời chốn quan trường nhưng ông luôn dạy các con: “Đừng lấy phong cách nhà quan làm phong cách nhà mình”. Và nhà ông là nơi dành để tiếp những người yêu nước cứ không phải chốn cho quan viên lui tới.

Tháng 6 năm 1906, Phó bảng Huy đưa hai con về Huế để nhận chức “Thừa biện bộ lễ” trong coi việc học ở Quốc Tử Giám. Huế lúc này đang đói khổ vì sưu cao thuế nặng, còn chính sự thì hai năm thay đến bốn Vua, cảnh chợ chiều chốn quan trường có lúc khiến ông Phó bảng phải buột miệng: “Quan trường thị nô lệ, trung chi nô lệ hựu nô lệ” (quan trường là nô lệ trong đám người nô lệ càng nô lệ hơn).

Theo cha về kinh, Nguyễn Sinh Cung đã bước vào môi trường tốt nhất cho việc học. Trường Đông Ba lúc ấy dạy cả 3 thứ chữ: Hán, Quốc ngữ và tiếng Pháp. Do tư chất thông minh, lại thêm vốn kiến thức chữ Hán và chữ Quốc ngữ do cha chỉ dạy nên học xong lớp Nhất Nguyễn Sinh cung đã vượt qua năm thứ nhất, vào thẳng năm thứ hai quốc học. Quốc học Huế là quốc học đầu tiên của xứ Trung kỳ, được đặt dưới sự bảo trợ của Chính phủ và được biệt đãi về mọi mặt. Trong mỗi lớp học đều có khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bát ái”, là những từ mà Nguyễn Sinh Cung đã rất quen thuộc khi nghe cha đàm đạo cùng bạn hữu ở quê nhà.

Nếu như ở quê nhà, ông Nguyễn Sinh Sắc dạy cho con mình bài học vỡ lòng về tình yêu nước, thì khi dắt con mình vào Huế ông đã mở ra trước mắt các con những trang sách đầu tiên cho một nhà cách mạng bẩm sinh. Huế trong mắt hai con ông không phải là một kinh kỳ hoa lệ mà là một triều đình tàn tạ đang sống nốt những ngày vàng son của nó, không giống chút gì với những kinh đô hoa lệ trong sách sử và càng xa lạ với những lối kiến trúc phương Tây được nói đến trong sách Pháp. Huế còn là một vùng đất mang đầy vết tích đau thương khi một triều đình yếu hèn không bảo vệ nỗi con dân trước nanh vuốt của kẻ xâm lược. Chính Huế với hai chiều hiện thực đối lập, với những làn sóng cách mạng ngấm ngầm chiến đấu…đã tạo điều kiện cho cái tên Nguyễn Sinh Cung vượt lên thành Nguyễn Tất Thành.

Ông Phó bảng đã có những thái độ và hành động không làm hài lòng quan trên. Vì thế, tháng 7 năm 1909 ông bị bổ đi làm Tri huyện Bình Khê, một vùng hẻo lánh thuộc tỉnh Bình Định. Đó cũng là chức quan cuối cùng của ông. Vì về đây không bao lâu thì ông đã mở nhà ngục thả những người bị bắt trong phong trào chống thuế. Ông đã bênh vực dân nghèo mà trừng trị bọn hào lý.

Ngày 19 tháng 5 năm 1910 ông bị Hội đồng nhiếp chính triều đình Huế buộc tội lạm quyền, thải hồi làm dân thường. Ra tù, ông cảm thấy thong dong, không còn vướng bận gì nên đã xuôi Nam tìm con trai, trước đó đã vào Phan thiết – đất tị địa của nhiều nhà nho yêu nước. Tại Phan Thiết, Nguyễn Tất Thành đã về dạy ở trường Dục Thanh trong sự bảo trợ của các thành viên Hội Liên Thành. Sau đó, nhờ vào các mối quan hệ của cha mình, Nguyễn Tất Thành đã được gửi vào Sài Gòn, và chỉ sau 4 tháng Nguyễn Tất Thành lên tàu tìm chí lớn. Kể từ đây, con đường của hai cha con ông Nguyễn Sinh Sắc đã không trùng lên nhau dù chỉ cùng một đích đến. Trong khi người con trai vòng qua 3 đại dương, tìm đến 3 châu lục và bắt gặp nhiều trào lưu đấu tranh tiến bộ thì người cha đã xuôi Nam với tâm trạng đau buồn khi chứng kiến những cuộc đấu tranh của nhân dân bị dập tắt trên mỗi chặng đường ông qua. Không ngờ rằng tia hi vọng ông gửi theo con mình sẽ có lúc trở về trong một vầng dương chói lọi.

 

Tài liệu bài viết tham khảo từ bộ phim tư liệu "Cuộc đời một nhà nho" do HTV sản xuất.

Nhị Hà - DH9C

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.