Thăng Long - Hà Nội, chốn kinh đô bậc nhất của các vị đế vương, một trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị quan trọng và phồn thịnh nhất của cả nước trong các thời kỳ. Đây còn là nơi lưu giữ những giá trị truyền thống, những di sản quý báu của dân tộc, hàng loạt các công trình kiến trúc cổ vô giá và độc đáo hiện vẫn đang được giữ gìn vô cùng chu đáo, tiêu biểu là “Thăng Long Tứ Trấn”.

Về tên gọi “Thăng Long Tứ Trấn”

Thăng Long Tứ Trấn là một hệ thống kiến trúc lịch sử với bốn ngôi đền thiêng của vùng đất thủ đô Hà Nội ngày nay gồm đền Bạch Mã, đền Voi Phục, đền Quán Thánh và đền Kim Liên, tất cả được xếp là di tích lịch sử cấp quốc gia.

         Thăng Long Tứ Trấn là một danh từ xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử dân tộc, gắn liền với nhiều giai thoại về công cuộc dựng nước, giữ nước của cha ông chúng ta và có vai trò quan trọng đối với sự bình yên, hưng vong của vùng đất đế đô Thăng Long trong những năm tháng đầy biến động của lịch sử. Về tên gọi, Thăng Long Tứ Trấn được hiểu với hai hàm nghĩa khác nhau:

-              Thứ nhất, về mặt tín ngưỡng dân gian

Thăng Long Tứ Trấn là khái niệm dùng để nói về bốn ngôi đền thiêng trấn giữ bốn hướng Đông, Tây, Bắc, Nam của kinh thành Thăng Long. Bốn ngôi đền thờ bốn vị thần coi giữ long mạch của vùng kinh đô. Ngay từ khi dời đô từ Hoa Lư ra Thăng Long, để xác định về mặt hành chính và tầm vóc to lớn của kinh thành Thăng Longvua Lý Thái Tổ đã cho xây dựng 4 ngôi đền ở 4 trấn, đây được xem như là một ý tưởng chu đáo của các bậc tiền nhân lo cho vận mệnh của quốc gia muôn đời

Trấn Đông: đền Bạch Mã thờ thần Long Đỗ - thành hoàng Hà Nội

Trấn Tây: đền Voi Phục thờ thần Linh Lang đại vương

Trấn Nam: đền Kim Liên thờ Cao Sơn Đại Vương

Trấn Bắc: đền Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ

-              Thứ hai, về mặt địa lý, hành chính

Đây là bốn kinh trấn hay còn gọi là nội trấn ở nước ta, có từ đời vua Lê Thánh Tông (1490), khi ông cho định lại bản đồ cả nước gồm 13 xứ thừa tuyên (sau này gọi là Trấn). Bốn kinh trấn gồm:

Kinh Bắc trấn giữ hướng Bắc

                                       Sơn Nam trấn giữ hướng Nam

                                       Hải Dương trấn giữ hướng Đông

                                       Sơn Tây trấn giữ hướng Tây

Do nằm ở bốn phương lại bao quanh kinh thành Thăng Long, nên Thăng Long Tứ Trấn giữ nhiều nhiệm vụ rất quan trọng như: vừa phải che chắn bảo vệ kinh thành ngay từ bên ngoài vào, vừa là lực lượng cứu giá và dẹp nội loạn khi trong kinh xảy ra biến loạn.

Như vậy, Thăng Long Tứ Trấn vừa mang nghĩa gốc (bốn ngôi đền thiêng – xuất hiện từ thời nhà  Lý) lại vừa có nghĩa phát sinh (bốn kinh trấn bảo vệ kinh thành – được biết đến từ sau năm 1490, thời vua Lê Thánh Tông). Dù theo hàm nghĩa nào thì Thăng Long Tứ Trấn luôn là niềm tự hào của người dân đất Hà thành nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung. Đây là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống, tín ngưỡng tâm linh cùng một khối lượng lớn các hiện vật rất có giá trị.

Ngày  nay, mọi người biết đế Thăng Long Tứ Trấn với hàm nghĩa gốc là phổ biến nhất. Bởi nó có lịch sử hình thành và tồn tại dài lâu, luôn gắn liền với những biến cố thăng trầm trong lịch sử. Và hơn hết là gắn liền với cuộc sống hàng ngày của người dân – đền nơi thờ cúng thần linh, nơi con người gửi gắm hy vọng của mình, đồng thời đây cũng được xem là tài sản nghệ thuật vô giá của dân tộc mãi vẫn còn được lưu giữ. Bốn ngôi đền với những lối kiến trúc truyền thống hết sức tinh tế, độc đáo đã tạo nên một không gian thiêng liêng cổ kính cho vùng đất Thăng Long – Hà Nôi.

1. Đền Bạch Mã trấn giữ phía Đông kinh thành

Đền Bạch Mã nằm ở số 76, phố Hàng Buồn, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Trước kia, đền được dựng trên đất phường Hà Khẩu, tổng Hữu Túc, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức. Đền thờ thần Long Đỗ, hiệu Quảng Lợi Bạch Mã đại vương, vị thần bảo hộ kinh thành Thăng Long, trấn giữ phía Đông (thành hoàng Hà Nội), là vị thần được người dân Thăng Long xưa và Hà Nội ngày nay tôn kính.

Khuôn viên ngôi đền khá rộng với diện tích hơn 500m2, đây được xem là một công trình đồ sộ còn được gìn giữ và bảo quản khá tốt. Kiến trúc của đền được xây dựng theo kiểu ghép bốn tòa nhà khác nhau lại trong một khuôn tường rộng theo hai mặt đường phố. Căn nhà ngoài cùng sát phố Hàng Buồm là nhà tiền tế, nối với nhà đại bái ở phía trong bằng tòa phương đình (đình hình vuông). Phía sau nhà đại bái là hậu cung. Cả ba nhà tiền bái, đại bái và hậu cung có chiều ngang là 15m. Kiến trúc còn lại ngày nay của ngôi đền chủ yếu theo lối kiến trúc của nhà Nguyễn vào thế kỷ XIX.

Đền quay mặt về phía Đông Nam. Trong đền có bức hoành phi ghi 4 chữ “ Đông trấn chính từ” (đền chính trấn giữ phí Đông), 15 tấm bia chép sự tích đền và thần, nghi lễ cúng bái, các lần trùng tu tôn tạo,… Ngoài ra, còn có tấm bia cổ nhất vào đời Chính Hòa 8 (1687), triều Nguyễn có bia Minh Mệnh nguyên niên (1820) và Tự Đức nguyên niên (1848)

Theo sách “Việt điện u linh” của Lý Tế Xuyên thì vào thời Đường, Cao Biền – cai trị đất Giao Châu, khi cho đắp thành Đại La thì gặp một dị nhân cưỡi rồng đỏ ngổi trên mây ngũ sắc bay lượn. Cao Biền dùng bùa pháp trấn yểm nhưng không được, biết đây là vị thần thiêng của nước Nam không thể làm hại nổi nên cho sai lập đền thờ để cầu thần phù hộ (năm 866), đền có tên là Long Đỗ (rốn rồng). Còn theo tương truyền thì khi vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long cho tu sửa thành Đại La, nhưng xây thành đến đâu thì sụt lở đến đó. Vua sai người vào đền cầu khẩn, trong chốc lát thấy một con ngựa trắng từ trong đền đi ra dạo một vòng quanh thành từ đông sang tây, sau đó quay trở vào đền rồi biến mất, ngựa đi đến đâu đều có vết chân để lại. Dựa theo dấu chân đó, vua cho đắp thành mới hoàn thành được. Vua xuống chiếu cho dân thờ làm thành hoàng, phong là Quảng Lợi Bạch Mã tối linh thượng đẳng thần, đổi tên đền Long Đỗ thành đền Bạch Mã, các triều sau đều có sắc phong tặng.

Đền đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử quốc gia năm 1986. Hằng năm vào ngày 12-13 tháng 2 âm lịch có diễn ra lễ hội đền, các nghi thức trong lễ hội do người dân phường Hàng Buồm, quận Hoàn Kiếm tổ chức rất trọng thể.

2. Đền Voi Phục thờ thần Linh Lang trấn giữ phía Tây kinh thành

Đền Voi Phục được dựng trên một gò đất cao thuộc vùng đất của trại Thủ Lệ (đơn vị hành chính) - một trong mười ba trại ở phía Tây kinh thành Thăng Long từ thời nhà Lý – Trần. Nay ngôi đền tọa lạc ở phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội

Tên gọi của ngôi đền không chỉ biểu thị một ý nghĩa cụ thể về hai con voi quỳ phục trước cửa ngoài của đền, nó còn mang một ý nghĩa linh thiêng, gắn bó với sự tích anh hùng của buổi đầu dựng nước. Đền thờ Linh Lang đại vương – người có công trong cuộc kháng chiến chống Tống bảo vệ bờ cõi Đại Việt. Theo huyền tích dân gian Linh Lang là con của vua thủy thần ở hồ Dâm Đàn (Hồ Tây), biết trước vận mệnh nước nhà sắp lâm nguy, Linh Lang giáng sinh làm con vua vua Lý Thái Tông để giúp nhà vua cứu nước, tương truyền là hoàng tử Hoằng Chân – người đã hy sinh trên phòng tuyến sông Như Nguyệt vào năm 1076. Sau khi mất, Linh Lang được người dân Thủ Lệ lập đền thờ cúng và được nhà vua sắc phong là thượng đẳng thần.

Một thần tích kể lại rằng: khi giặc đến xâm lăng, Linh Lang xin vua ban cho một lá cờ đỏ cán dài và một con voi để dẹp giặc. Khi cờ và voi được đưa đến làng Thủ Lệ nơi hoàng tử ở, Linh Lang liền cầm cờ đỏ chỉ voi, voi liền quỳ phục xuống, Linh Lang cưỡi lên voi và xông pha ra trận dẹp giặc. Cuộc kháng chiến chống Tống kèo dài trên phòng tuyến Như Nguyệt khiến phía địch và ta đều kiệt sức, quân Tống không cách nào chọc thủng phòng tuyến, còn ta cũng không đủ sức tiêu diệt giặc trong thời gian ngắn. Trước tình thế đó, thái úy Lý Thường Kiệt cùng hoàng tử Hoằng Chân quyết định dùng kế điệu hổ ly sơn. Một cánh quân Đại Việt do hoàng tử Hoằng Chân chỉ huy vượt sông đánh nghi binh vào doanh trại quân Tống phía Đông nhằm thu hút chủ lực địch, tạo điều kiện cho thái úy Lý Thường Kiệt với đội quân chủ lực đánh vào phía Tây, doanh trại đóng quân chính của quân Tống, giúp ta giành thắng lợi một cách chủ động. Trận chiến thắng lợi nhưng hai hoàng tử Hoàng Chân và Chiêu Văn đã hy sinh anh dũng.

Còn theo cuốn thần tích ghi chép sự tích công lao của Linh Lang đại vương đã được trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp sao chép lại thì: “Khi ấy có tướng giặc Tống là Triệu Tiết, Quách Quì thống lĩnh 9 tướng: Hồng, Châu, Vũ, Nhị, Dư, Tỉnh, Hoàng, Vĩnh, Trinh phối hợp với quân Chiêu kéo đến xâm lược nước ta. Quân giặc tới miền Quốc Oai, thế giặc rất mạnh, Kinh thành náo động, nhà vua lo lắng, vua sai sứ giả đi chiêu mộ người tài đánh giặc. Sứ giả đến trại Thủ Lệ, Vương lúc này đang nằm, nghe thấy sứ giả, đã xin mẹ mời sứ giả vào. Vương xui nhà vua sắm cho một ngọn cờ hồng, một cây giáo dài, một thớt voi đực. Nhà vua không những chuẩn theo lời đề nghị của Vương, mà còn cấp thêm hơn mười vạn binh lính, Vương lại mộ thêm nghĩa sĩ của bản trại được 121 người. Sắp đặt quân tướng xong, Vương hạ lệnh bá quân xông lên. Đến phủ Phú Lương, ngọn cờ đào vừa vung lên, quân giặc đã tan vỡ. Sau khi thắng trận, Linh Lang trở về đất cũ, được ít lâu thì hóa ở đấy. Nhà vua phong tước cho Linh Lang và cho sửa lại nơi ở cũ của Người để làm đền thờ”.

Thần Linh Lang được người dân nhiều nơi trong cả nước tôn kính thờ cũng. Tuy nhiên, qua hai dị bản nói trên về thần Linh Lang thì mỗi nơi lại có một thần tích dân gian khác nhau, nhưng tựu chung lại thì các bản thần tích cũng đều muốn đề cập đến hình tượng người anh hùng dân tộc có công dẹp giặc ngoại xâm, mang lại bình yên cho dân tộc trong buổi đầu dựng nước và đấu tranh giữ lấy nước.

Phía trước ngôi đền có cổng tứ trụ, có ý nghĩa như những trục vũ trụ đem sinh khí từ tầng trên truyền xuống trần gian (đây là phong cách kiến trúc của thế kỷ XIX – XX dưới thời nhà Nguyễn), hai bên cổng dẫn vào đền có bia hạ mã và đôi voi chầu phục. Cũng chính vì điều này mà đền mang tên Voi Phục. Đền Voi Phục có dạng hình chữ “Công”, kết cấu gồm nhà tiền tế, trung đường và hậu cung. Tiền tế gồm 5 gian mái lợp ngói mũi hài cổ. Trung đường một gian chạy dọc vào phía trong nối với hậu cung. Ở đây được đặt ngai lớn chạm khắc hình rồng, hoa lá tỉ mỉ, các nét chạm khắc mang nghệ thuật của thế kỷ XIX. Hậu cung với năm gian, gian chính giữa ở vị trí sâu và cao nhất là tượng Linh Lang đại vương. Tượng có nét mặt thanh tú, cao sang và trong rất trẻ. Phía trước là hòn đá lớ có vết lõm được đặt trong hộp kính, tương truyền thần đã gói đầu trước khi hóa thành rồng. Trong đền ngoài các pho tượng còn có hoành phi, câu đối, nhang án, long ngai, cửa võng, bát bửu cùng các đồ tế khí,…đều được sơn son thếp vàng lộng lẫy.

Đền Voi Phục được sùng tu và sửa chữa nhiều lần ngày càng trở nên khang trang hơn. Đền là một trong mười hai di tích lớn của đất nước được công nhận di tích lịch sử - văn hóa vào năm 1962. Hàng năm lễ hội của đền được tổ chức từ ngày 9 – 12 tháng 2 âm lịch, từ việc tổ chức cho đến các nghi thức trong buổi lễ được chuẩn bị và tiến hành như quốc lễ.

 

Tham khảo:

1. Trung tâm UNESCO  bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc Việt Nam. Hà Nội - di tích lịch sử văn hóa và danh thắng

2. Nguyễn Thị Bích Hà. Hà Nội - con người lịch sử văn hóa. Nxb ĐHSP

3. Chu Huy. Một số đền chùa nổi tiếng đất Thăng Long 

Mỹ Ngọc - DH11SU

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.