Thăng Long - Hà Nội, chốn kinh đô bậc nhất của các vị đế vương, một trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị quan trọng và phồn thịnh nhất của cả nước trong các thời kỳ. Đây còn là nơi lưu giữ những giá trị truyền thống, những di sản quý báu của dân tộc, hàng loạt các công trình kiến trúc cổ vô giá và độc đáo hiện vẫn đang được giữ gìn vô cùng chu đáo, tiêu biểu là “Thăng Long Tứ Trấn”.

3. Đền Quán Thánh thờ Huyền Thiên Trấn Vũ trấn giữa phía Bắc

Đền Quán Thánh còn có tên gọi là là quán Trấn Vũ nơi thờ Thần trấn giữ phía Bắc, một trong Thăng Long Tứ Trấn. Hoặc còn gọi là quán Chân Vũ nơi thờ vị thánh tên là Chân Vũ đã từng hiển thánh để cứu dân độ thế.

Đền được xây dựng từ đầu đời Lý, khi Lý Công Uẩn định đô ở Thăng Long (1010) và đã trải qua nhiều lần trùng tu lớn vào những năm 1618,1768, 1843, 1856, 1895, 1941 có ghi trên văn bia. Hiện tại đền Quán Thánh tọa ngự ở ngã tư đường Thanh Niên và phố Quán Thánh, gần chùa Trấn Quốc (Hà Nội). Năm 1823, Vua Minh Mạng lên ngôi đổi tên Đền là Trấn Vũ Quán. Đến đời vua Thiệu Trị năm 1842, đổi tên là Đền Quán Thánh như hiện nay.

Theo truyền thuyết thì Huyền Thiên Trấn Vũ có rất nhiều công lao với dân vùng Giao Chỉ và Thăng Long nên được coi là Thành hoàng phía Bắc của đất kinh kỳ. Người đời thêu dệt nên nhiều kỳ tích đầy sự huyền bí về người và nguồn gốc của ngôi đền như: Huyền Thiên Trấn Vũ trừ rùa thành tinh (đời Hùng Vương 14); trừ cáo chín đuôi ở Tây Hồ; giúp An Dương Vương trừ tinh gà trắng xây thành Cổ Loa; diệt hồ ly tinh trên sông Hồng đời vua Lý Thánh Tông…

Quán Trấn Vũ là một công trình nguy nga đồ sộ. Trước cổng nghi môn là bốn trụ biểu nhìn ra Hồ Tây. Nghi môn được xây dựng bề thế trên những phiến đá màu xanh, trên gác treo quả chuông đồng cao 1,5m.

Các nhà tiền tế, đại bái, hậu cung được kiến trúc theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, trang trí lộng lẫy. Nổi tiếng nhất là pho tượng Huyền Thiên Trấn Vũ bằng đồng đen được đúc vào năm 1677 (trước kia tượng làm bằng gỗ). Tượng cao 3,72m nặng gần 4 tấn, ngồi oai nghiêm trong tư thế mặt nhìn thẳng. Tượng mặc áo đạo sĩ màu đen, đi chân không, ngón trỏ tay trái đưa lên trước mặt để bắt huyết, tay phải chống gươm lên lưng rùa, thấn gươm có quấn rắn (rắn tượng trưng cho sức mạnh, rùa tượng trưng cho sự trường tồn của thần). Hiện nay, đền Quán Thánh còn bảo lưu được nhiều hiện vật quý rất có giá trị đặc biệt là đồ đồng, đây được xem là một bảo tàng thu nhỏ về đồ đồng. Từ pho tượngTrấn Vũ tới các cây đèn, chảo, chuông, khánh, bát bửu,..đều được làm bằng đồng. Đặc biệt vào thời Tây Sơn có đô đốc Lê Văn Ngữ đã quyên tiền đúc chiếc khánh đồng lớn đặt tại nhà tiền tế vào năm Cảnh Thịnh thứ 2 (1794, niên hiệu vua Quang Toản triều Tây Sơn). Trong quán còn có 12 bức hoành phi đại tư, 34 câu đối, 7 cuốn thư, 7 bảng hình trái đào và 4 biển vuông bằng gỗ ghi lại những bài thơ hay của các danh nho xứ Bắc Hà. Năm 1842 vua Thiệu Trị đến thăm, dâng tiền bằng vàng để đúc lại thành một cái võng vàng, với sợi dây bạc xâu để treo ở cổ tay tượng Trấn Vũ.

Đây được xem là một danh thắng của thủ đô nằm ven hồ tây với lối kiến trúc độc đáo, những hiện vật quý giá cho đến nay vẫn được bảo quản tốt. Đên đã được công nhận di tích lịch sử văn hóa vào năm 1962.

4. Đền Kim Liên thờ Cao Sơn đại vương trấn giữ phía Nam

Đền Kim Liên còn được gọi là đình Kim Liên, hoặc đền Cao Sơn. Trước đây thuộc địa phận phường Kim Hoa, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức nay thuộc phường Phương Liên, quận Đống Đa, Hà Nội. Đền thờ thần Cao Sơn – vị thần có công âm phù vua Lê Tương Dực dẹp loạn không phục nhà Lê. Sử tích cũ chép lại “Khi vua Lê Tương Dực dấy binh dẹp loạn không phục cơ nghiêp của vua Lê Lợi, có ba vị đại thần là Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Hoàng Dụ và Nguyễn Văn Lũ thụ mệnh đem quân đi chinh phạt. Đến địa phận huyện phụng hòa thì thấy giữa cảnh núi rừng rậm rạp có ngôi đền cổ mang bốn chữ “Cao Sơn Đại Vương”, rất lấy làm kinh dị, bèn khẩn cầu được thần phù trợ, quả nhiên mười ngày sau đã thành công”. Vì vậy, vua Lê đã cho xây dựng đền và dựng bia “Cao Sơn Đại vương thần từ bi minh”.

Từ bên ngoài đi vào là một cổng xây trụ biểu, đỉnh trụ đều có đặt con nghê gốm quay mặt vào nhau, phía dưới là những ô lồng đèn trong có đắp nổi các hình tứ linh. Phía sau cổng là một sân gạch rộng, có hai dãy giải vũ đều ba gian, kiểu vì kèo quá giang. Kiến trúc chính của di tích nằm trên một gò cao bao gồm tam quan và đền thờ. Chín bậc gạch cao được xây dựng bằng những viên gạch vồ có kiến trúc lớn của thời Lê Trung Hưng, nối kết với bộ phận kiến trúc phía ngoài với phần kiến trúc chính ở trên gò. Hai bên bậc thềm, ở sát sân gạch đặt hai sấu đá thời Lê, hướng ra phỉa cổng ngoài. Đi lên hết các bậc thềm, ta gặp tam quan đền Cao Sơn đây là một nếp nhà ba gian xây kiểu tường hồi bít đốc. Bốn bộ vì đỡ mái được làm theo kiểu “chồng rường, giá chiêng, cột trốn”.

Ngôi đền chính có kết cấu hình chữ “Đinh” gồm bái đường và hậu cung. Tòa bái đường qua thời gian dài này chỉ còn lại một nền đất cao và những làng đá tảng kê chân cột to, dày. Tổng thể kiến trúc của đền Kim Liên nay chỉ còn lại tòa hậu cung với ba gian được xây dựng bằng gạch trần, mái lợp ngói ta. Gian thứ nhất đặt hai long ngai và mười pho tượng từ điện mẫu của chùa Kim Liên ở canh đưa tới. Gian thứ hai xây bệ gạch cao 1m đặt hai long ngai và các đồ tế khí. Gian cuối cùng là thờ Cao Sơn Đại Vương và hai nữ thần phối hưởng (Thủy tinh đệ tam tôn nữ Đông hổ trưng vương mẫu và Huệ minh phu nhân). Long ngai thờ thần Cao Sơn có kích thước lớn, chạm khắc tinh vi được làm theo kiểu dân quí dạ cá, các lớp trên chạm thủng hoa dây là một vật quý hiếm.

Đền còn giữ được 39 đạo sắc phong trong đó 26 đạo sắc phong thời Lê Trung Hưng, 13 đạo sắc phong thời Nguyễn, cổ nhất là sắc phong năm Vĩnh Tộ thứ hai (1620, đời vua Lê Thần Tông nhà Lê Trung hưng). Ngoài ra là các câu đối, bia đá, trong hốc cây có bài văn bia của Lê Trung Hưng.

Bộ văn hóa và thông tin xếp hạng đây là di tích lịch sử nghệ thuật kiến trúc vào 9/1/1990. Lễ hội đền Kim Liên mở vào ngày 16-3 âm lịch hàng năm.

Bốn ngôi đền là bốn công trình nghệ thuật đồ sộ và đặc sắc nằm trong hệ thống kiến trúc tôn giáo của dân tộc. Mỗi công trình (đền) lại bao gồm nhiều mảng kiến trúc nhỏ bên trong như: nghi môn, nhà trung tế, tiền tế, đại bái, hậu cung,… Tùy vào kết cấu và chức năng mà dựng nên, mang đặc điểm của kiểu kiến trúc Việt, xây dựng bằng thân những cây gỗ to tốt, lợp ngói, sử dụng hình ảnh hoa lá, các con vật thiêng (long, lân, quy, phượng) để trang trí và có nhiều gian nhà. Tùy vào quy mô lớn nhỏ mà số lượng các gian nhà của từng ngôi đền có sự khác nhau. Được xây dựng vào những thời điểm khác nhau nhưng đền Bạch Mã, Voi Phục, Quán Thánh, Kim Liên chưa hề có sự trùng lập trong kết cấu xây dựng hay cách bày trí bên trong. Đền Bạch Mã xây dựng theo kiểu bốn tòa nhà ghép lại với nhau, Voi phục có dạng hình chữ “Công”, Quán Thánh kiến trúc theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, Kim Liên với kết cấu hình chữ “Đinh”. Những nét chạm khắc tinh tế, đường cong uyển chuyển của các bức chạm khắc, phù điêu, những con vật được đắp nổi,… đã tôn thêm sự trang nghiêm, cổ kính của các ngôi đền.

Cùng với chùa và quán, đền và đình đã tạo nên không gian tâm linh thiêng liêng trải khắp Hà Nội, góp phần làm phong phú hơn vào kho tàng tín ngưỡng của dân tộc. Ngày hội hằng năm chính là dịp tái hiện phần nào lịch sử đã diễn ra, tưởng nhớ đến công lao của các bậc anh hùng vì dân vì nước. Đây còn là dịp giáo dục các thế hệ về lòng yêu nước, tinh thần đấu tranh của tổ tiên ta. Thăng Long Tứ Trấn tài sản vô giá cả về vật chất lẫn tinh thần của dân tộc cần được giữ gìn và phát huy một cách đúng đắn, để mãi là niềm tự hào của dân tộc về nghệ thuật kiến trúc tinh tế, mang đậm chất việt chỉ có ở Việt Nam.

THAM KHẢO

1.    Hà nội di tích lịch sử văn hóa và danh thắng. Nxb. Trung tâm UNESCO bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc việt nam. Hà nội – 2000

2.    Thăng Long Hà Nội 1000 sự kiện lịch sử. Nxb. Hà nội

3.    Doãn Đoan Trinh. Hà Nội -di tích lịch sử văn hóa và danh thắng

Mỹ Ngọc - DH11SU

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.