Sau khi rời khỏi vùng đất kinh kỳ, Cụ Nguyễn Sinh Sắc bắt đầu cuộc hành trình xuôi về phương Nam với hy vọng tìm được một tia sáng mới trong các phong trào yêu nước lúc bây giờ. Và chính trên mảnh đất phương Nam này đã ghi dấu những bước chân hoạt động không mệt mỏi của một con người giàu lòng yêu nước nhưng không thể vượt lên thời cuộc, như một duyên số, Cụ Phó bảng đã chọn mảnh đất này trở thành nơi dừng bước cuối cùng cho cuộc đời của mình.

Cuộc hành trình xuôi Nam của ông Phó Bảng không hề vô định. Hễ nghe ở đâu có người yêu nước hoạt động chống Pháp là ông tìm đến. Sau Sài Gòn, Lộc Ninh, Phnom Penh, Cao Lãnh là nơi ông thường đi về. Đây chính là vùng đất có nhiều người tham gia và ủng hộ phong trào Đông Du, một trong số đó là ông Trần Bá Lê (Ông Cả Nhì Ngưu). Ông từng bỏ tiền đóng tàu cho thanh niên đi Thái Lan, Hương Cảng học tập. Khi bị phát hiện, ông bị bắt, tịch thu tài sản, phải bán nhà lo lót khỏi vòng tù tội. Lúc ông Phó Bảng Huy đến Cao Lãnh thì ông Cả Nhì Ngưu đã làm nhà riêng mời ông ở hẳn để dạy học và lo thuốc thang cho bà con trong vùng. Ông Trần Bá Lê về sau bị Pháp bắt và chết trong khám lớn Sài Gòn.

Thời bấy giờ, từ đầu vàm cho đến rạch Cái Tôm của xã Hòa An đều có nhà của người yêu nước. Mỗi lần đi về nơi đây, ông Phó Bảng thường ghé vào nhà Hương chủ Nguyễn Văn Sành. Và có lẽ ông Sắc cũng không ngờ rằng chính vị hương chủ này về sau đã lo hậu sự chu đáo cho ông khi ông mãi mãi nằm lại mảnh đất phương Nam. Nhưng người mà ông Phó Bảng Huy tâm đắc nhất trong những lần hàn huyên việc nước là ông Lưu Chánh Đáng – người từng đi Nhật tham gia phong trào Đông Du, bị trục xuất cùng Phan Bội Châu.

Dạy học và bốc thuốc là thuật xuất xử của nhà nho khi xa lánh chốn quan trường. Người dân Hòa An ngày nay vẫn còn nhắc đến người thầy thuốc lấy cứu nhân thay cho độ thế, không cứu được nước thì tận tụy cứu người.

Năm 1921, cụ Phó Bảng đặt chân đến Vĩnh Kim (thuộc huyện Châu Thành, Tiền Giang ngày nay) theo lời mời của ông Trần Năng Liễu – một trong sáu vị lục hiền của xứ thơ Nam Bộ. Năm người kia là Trần Thượng Xuyên, Dương Văn Tùng, Nguyễn Chi Giao, Huỳnh Văn Túc và Trần Văn Diệm (tức ông nội Giáo sư Trần Văn Khê). Trong thời gian ở Vĩnh Kim, ông Phó Bảng thường đi lại bốc thuốc cho người dân trong vùng. Cũng từ đây, khi đến thăm và đàm đạo cùng cao tăng các chùa cụ đã tìm thấy ở cửa thiền những tấm lòng ái quốc và ở đạo Phật những con đường giải thoát. Nhưng theo ông không thể như cách hiểu của Phật giáo đương thời. Cụ Phó Bảng đã giải thích cách hiểu của riêng mình trong đôi câu đối mà cụ đã để lại tại chùa Hội Khánh – Thủ Dầu 1, nơi cụ đã đến bốn lần từ năm 1923 đến năm 1928 và kết nghĩa huynh đệ với hòa thượng trụ trì Từ Văn: “Mở rộng đạo lớn như tìm sừng thỏ khều bóng trăng đáy nước – Nuôi dưỡng mái thiền như lấy lông quạ trói gió vào ngọn cây”. Với cụ, tu là nhập thế, là xả thân, chứ không phải là lánh đời, trú ngụ vào chốn hư ảo của tâm linh. Cụ Phó Bảng còn để lại vết tích của mình ở chùa Tuyên Linh, trên đất Mỏ Cày – Bến Tre, nơi đây từng có nhóm Thiên Địa hội hoạt động rất mạnh trong khoảng thời gian trước và trong thế chiến thứ nhất. Khi tổ chức này tan rã thì nhóm chuyển sang tham gia Hội kính Nguyễn An Ninh. Và cả hai tổ chức yêu nước này đều có quan hệ mật thiết với chùa, kể từ khi sư Khánh Hòa về trụ trì. Chính trụ trì Khánh Hòa đã cùng Giáo thọ Thiện Chiếu của chùa Linh Sơn làm dấy lên phong trào chấn hưng Phật giáo. Đầu thế kỷ 20, khi đạo Phật suy di, chùa chiền thành nơi mê tín, thành chỗ nương mình cho kẻ chán đời, thì phong trào Duy Tân và phong trào chấn hưng Phật giáo ở Trung Quốc đã buộc đạo Phật trong nước phải nhìn lại mình. Là người chủ trương lấy đạo Phật để vận động cứu nước, cụ Phó Bảng đã đến với phong trào chấn hưng Phật giáo như một sự tất nhiên. Năm 1922, cụ đến chùa Linh Sơn – Sài Gòn, đúng vào lúc cuộc chấn hưng đang được khơi màu với đôi liễn đối khá kỳ lạ trước cổng chùa: “Đạo Phật nhập thế chứ không yếm thế, từ bi lắm lúc phải sát sanh mà cứu chúng sanh”.

Năm 1927, sau khi đi Long Xuyên gặp nhà cách mạng Nguyễn Quang Diêu vừa vượt ngục, cụ Phó Bảng đến chùa Hòa Thạnh (nay thuộc huyện Tịnh Biên – An Giang) – nơi mà cụ đã một lần ghé lại vào năm 1923. Cụ được sư Viên Minh trụ trị giới thiệu với sư Nguyễn Đạt Điền ở chùa Giồng Thành – thuộc huyện Tân Châu. Và ngay khi vừa gặp gỡ họ đã nhận ra ở nhau sự tương đồng về quan niệm nhập thế của đạo Phật. Năm 1929, cụ Phó Bảng từng bị Pháp vây bắt tại ngôi chùa này, nhờ sư Đạt Điền bố trí vượt thoát được về Cao Lãnh, còn nhà sư thì bị quản thúc trong một thời gian. Năm 1930, sư Đạt Điền trở thành đảng viên của Chi bộ Cộng sản đầu tiên ở vùng này. Nghĩa là không phải ngẫu nhiên mà những nơi cụ Phó Bảng đi qua, dù đó là cửa thiền, đều nhận được một ngọn gió khuấy động, đợi đến lúc thời tiết chính trị thuận lợi là bùng lên thành luồng xoáy cách mạng. Là một Đại khoa bất mãn chốn quan trường, chuyên giao du với những chí sĩ ở các nơi có phong trào yêu nước mạnh, về sau còn được biết đến là cha của Nguyễn Ái Quốc, nhất cử nhất động của ông Phó Bảng Huy đều không lọt khỏi mắt của mật thám Pháp, nhưng như trong một lá thư khác mà cụ viết cho bà cử Can: “Những nhà mà tôi liên tiếp đến ở trong 17 năm nay không hề bị xét hỏi lôi thôi gì cả, cũng may là tôi biết ít nhiều luật lệ phép tắc”.

Ở làng Hòa An có những người gắn bó với cụ cho đến lúc cụ an nghĩ ở quê hương thứ hai này: ông Lê Chánh Đáng, ông Nguyễn Văn Sành, ông Nguyễn Văn Thiện, ông Bùi Văn Tiềm, ông Nguyễn Văn Mân, ông Lê Văn Ngưu…và nhiều vị yêu nước khác. Sau 18 năm phiêu bạt phương Nam, nhìn lại cụ Phó Bảng hẳn thấy ngậm ngùi, vì con đường của một thế hệ sĩ phu xuất sắc cuối cùng chỉ dẫn đến bế tắc. Vương Thúc Quý đã vĩnh viễn nằm xuống khi hành trình Đông Du chưa kịp bắt đầu. Phan Bội Châu bị giải về từ Thượng Hải để trở thành một ông già Bến Ngự. Phó Bảng đồng khoa Phan Chu Trinh cũng đã thành người thiên cổ. Còn người bạn đồng liêu Trương Gia Mô đã phải tuẫn tiết tại núi Sam khi lâm vào tâm trạng bế tắc, bất đắc chí. Không lấy thành bại mà luận anh hùng, tất cả những con người này đã sống và chết với một tấm lòng hướng nghĩa như Nguyễn Đình Chiểu từng viết: “Vì nước tấm thân đã gửi còn mất cũng cam, giúp đời cái nghĩa đáng làm nên hương nào ngại”. Nơi trú ngụ cuối cùng của cụ Phó Bảng trước khi cụ bước vào cõi của người hiền là ngôi nhà của ông Năm Giáo ở xã Hòa An – Cao Lãnh. Cuối mùa lũ năm Kỷ Tỵ 1929 cụ Phó Bảng lâm bệnh nặng, biết không qua khỏi, cụ giao lại cho bà con số tiền 150 đồng nhờ mua quan tài và đồ tẩm liệm. Cụ còn cẩn thận dặn để quan tài ngoài sân rồi đưa đi luôn. Cụ lịm dần rồi tắt thở vào đêm 26 tháng 1 năm ấy, không người ruột thịt, nhưng cận kề là bao bạn hữu thân thiết trong bao năm tha phương. Cụ được an táng tại xã Hòa An, như là một người có công lao đối với mảnh đất Hòa An này. Trong hàng chục năm sau đó, ngôi mộ đã trở thành biểu tượng cho lòng tin của người Nam bộ vào sự nghiệp do con trai của người nằm dưới mộ dẫn dắt toàn dân tộc dựng nên.

Những tư tưởng tiến bộ nhất của loài người đã giúp Nguyễn Tất Thành trở thành Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh. Nhưng để Nguyễn Sinh Cung trở thành Nguyễn Tất Thành thì lịch sử trước hết phải tri ân một nhà nho trung trinh thông tuệ và một người phụ nữ đảm đang, nhân hậu. Hai đấng sinh thành ấy không chỉ ra cho con trai mình con đường phải đi nhưng đã chỉ cho con điểm khởi đầu của mọi khởi đầu. Cũng như người con, họ đã không có mặt để chứng kiến giây phút cả dân tộc chạm đến đích cuối của cuộc hành trình vĩ đại ấy, nhưng nói theo tôn giáo mà lúc cuối đời cụ Phó Bảng hằng cổ xúy: “Đã gieo nhân lành, còn quả phúc thuộc về lịch sử”. Và cũng theo tôn giáo ấy, thì giữa tự do đất trời của Tổ quốc hôm nay, cụ vẫn còn đâu đó trong một hình hài khác của sự sống vô lượng, vô biên.

(Tư liệu bài viết được tham khảo dựa trên bộ phim tư liệu "Cuộc đời một nhà nho" do HTV sản xuất nhân dịp tác giả được cộng tác với Đoàn làm phim.)

Nhị Hà - 9C

  • Cao Văn Đức

    Vương Thúc Quý chứ không phải Dương Thúc Quý bạn ạ!

  • Nguyễn Thị Anh Thư

    Cảm ơn góp ý của bạn!