Cuối tháng 2 vừa qua, các bạn sinh viên chuyên ngành Lịch Sử năm ba (DH11SU) đã có một chuyến đi thực tế chuyên môn đầy thú vị và ý nghĩa. Thực tế chuyên môn là một học phần bắt buộc trong chương trình đào tạo của sinh viên ngành Lịch sử. Đây là dịp để học tập trải nghiệm và trau dồi thêm những vốn kiến thức mới, những bài học trong thực tiễn. Đồng thời, chuyến đi cũng đã rèn luyện cho các bạn tinh thần đoàn kết, sẵn sàng chia sẽ, giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh.

Những điểm đến trong chuyến thực tế chuyên môn lần này của các bạn sinh viên chuyên ngành lịch sử - DH11SU hướng đến miền đất di sản của Việt Nam ở các tỉnh, thành của miền Trung như: Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam... Đó  là những di tích lịch sử - văn hóa, các công trình kiến trúc nổi tiếng, bảo tàng lịch sử - văn hóa,… Đặc biệt đây đều là những di sản văn hóa của thế giới đã được UNESCO công nhận, là niềm tự hào to lớn đối với quê hương đất nước.

Điểm đến đầu tiên trong chuyến hành trình học tập thực tế tại Huế là chùa Thiên Mụ và Đại Nội.

          Chùa Thiên Mụ được xây dựng vào khoảng đầu thế kỷ XIX bởi chúa Nguyễn Hoàng, chùa nằm trên đồi Hà Khê, tả ngạn sông Hương và cách kinh thành Huế 4km về phía Tây Nam. Với diện tích khoảng 4ha, chùa có các công trình lớn nhỏ khác nhau, nhưng tiêu biểu nhất vẫn tòa là tháp Phước Duyên cao 7 tầng - đây được xem là biểu tượng của chùa Thiên Mụ. Trong tất cả 99 ngôi chùa lớn nhỏ ở Huế, có thể nói chùa Thiên Mụ là ngôi chùa có lịch sử lâu đời và tiêu biểu nhất cho nghệ thuật kiến trúc phật giáo thời Nguyễn.

Đại Nội Huế là một tổng thể công trình hùng vĩ và quy mô nhất với Ngọ môn, điện Thái Hòa, khu Thế Miếu, Hiển Lâm Các,… Năm 1993 cố đô Huế đã được UNESCO công nhận là Di sản Văn hóa thế giới. Và đây trở thành một điểm tham quan học tập ý nghĩa nhất đối với những sinh viên ngành Lịch sử chúng tôi, qua đó những kiến thức học tập được tại đây sẽ được vận dụng vào công việc nghiên cứu, giảng dạy, giải thích lịch sử…

Ngọ Môn, cửa chính của Hoàng thành được xây dựng năm 1833 dưới thời vua Minh Mạng. Ngọ môn dài 57,95m cao 14,80m gồm 2 phần chính. Phần dưới là nền lát bằng đá ghép có 5 lối ra vào. Phần trên là lầu Ngũ Phụng gồm hai tầng bằng gỗ sơn son thếp vàng có 100 cột lớn nhỏ. Kiến trúc theo lối liên kết chín bộ mái riêng biệt, to nhỏ cao thấp khác nhau đặt trên một nền đài bằng đa hình chữ U đồ sộ.

Điện Thái Hòa được xây dựng vào thàng 2-1805 gồm hai ngôi nhà lớn ghép lại theo kiểu “Trùng thiềm điệp ốc”. Đây là nơi quan trọng nhất trong Đại Nội, là nơi cử hành các nghi lễ lớn của triều đình và thể hiện uy quyền quốc gia. Điện được xây trên một nền cao 1m với diện tích 1.200m2 nguy nga bề thế phía trước là sân chầu của các quan văn quan võ. Hơn hai thế kỷ trôi qua nhưng điện Thái Hòa vẫn còn tương đối nguyên vẹn, vẫn giữ được vẻ uy nghi, mang nét kiến trúc độc đảo của riêng mình.

Khu Thế Miếu hay còn gọi là Thế Miếu Tổ. Vào những năm 1821 -1822 vua Minh Mạng đã cho xây dựng Thế Miếu để thờ vua Gia Long và các vua Nguyễn kế vị. Tuy nhiên, nơi đây hiện chỉ thờ 10 vị vua triều Nguyễn, những người được xem là có công với đất nước. Nội thất được trang trí hết sức lộng lẫy và trang nghiêm.

Đối diện với Thế Miếu là Cửu đỉnh và Hiển lâm các. Cửu đỉnh được đúc vào cuối năm 1835 dưới thời vua Minh Mạng, đây được xem là một tác phẩm nghệ thuật đúc đồng hoàn mỹ, độc đáo có một không hai của Việt Nam. Trên mỗi đỉnh đồng đều có chạm nổi 18 hình sông núi, biển, trời, phong cảnh của mọi miền đất nước, nó tượng trưng cho sự bền vững, thịnh vượng và sức mạnh của vương triều Nguyễn. Hiển Lâm Các là ngôi nhà ba tầng duy nhất của kinh đô Huế mang biểu tượng tam tài: Thiên, địa, nhân. Tất cả các công trình kiến trúc khác tại kinh đô Huế đều không được vượt cao hơn Hiển Lâm các.

Các vị vua triều Nguyễn cho rằng cuộc sống hiện tại chỉ là một cuộc sống tạm bợ và khi họ mất có nghĩa là họ sẽ bắt đầu một cuộc sống mới, cuộc sống vĩnh hằng ở thế giới bên kia. Chính vì vậy mà các vua đều xây dựng cho mình một khu lăng tẩm riêng. Lăng trở thành một nét độc đáo chỉ ở Huế mới có và đây cũng chính là điểm đến tiếp theo của chuyến hành trình với 3 lăng tẩm: Khải định, Tự Đức và Minh Mạng cùng đền thờ Công chúa Huyền Trân.

Lăng Khải Định (còn được gọi là Ứng Lăng), được xây dựng năm 1920 – 1931 trên một ngọn đòi nằm ở phía nam của sông Hương, nơi hội tụ đầy đủ các yếu tố phong thủy địa lý: tiền án, hậu chẩm, hổ phục, rồng chầu, minh đường,…Tổng thể lăng có 127 bậc thang, gồm các công trình như: bái đình, bi đình, trụ biểu, cung Thiên Định,…

Trong lăng Khải Định hiện nay có hai pho tượng bằng đồng tạc hình nhà vua với tỷ lệ 1:1 một pho tượng ngồi trên ngai vàng và một pho tượng đứng. Sự có mặt của tượng vua trong lăng là một điều đặc biệt so với các lăng khác.

Trong số các lăng tẩm hiện còn lưu giữ ở Huế thì lăng Khải Định được coi là Lăng tẩm tráng lệ nhất, tiêu tốn nhiều nhất về thời gian, công sức và tiền của. Thoạt nhìn, Lăng giống như một tòa lâu đài ở Châu Âu, vì được xây dựng bằng vật liệu bê – tông và kiểu cách Âu là chủ yếu, còn vật liệu truyền thống không đáng kể. Lăng Khải Định được xem là một tác phẩm nghệ thuật tổng hòa của nhiều dòng văn hóa, nó đánh dấu giai đoạn giao thời giữa hai nền văn hóa Á – Âu ở Việt Nam.

Lăng Tự Đức (Khiêm Lăng), xây dựng trong khoảng thời gian từ 1864 – 1867, toàn bộ khu lăng rộng khoảng 12 ha và gồm gần 50 công trình kiến trúc lớn nhỏ như: cửa vụ khiêm, hồ lưu khiêm, xung khiêm tạ, khiêm cung môn, hòa khiêm điện,..Hầu hết các công trình đều được xây dựng bằng các vật liệu truyền thống: gạch, đá, gỗ,…Lăng còn lưu giữ một bia đá lớn nhất Việt Nam cao 5m, nặng gần 20 tấn được dựng tại Bi đình, trên đó khắc bài “Khiêm cung ký” dài 5000 chữ của vua Tự Đức.

Đây được xem là Lăng trữ tình nhất, bởi nó có sự kết hợp hài hòa giữa thiên nhiên cảnh vật cùng bàn tay tài hoa của con người và được xây dựng theo đúng với ý đồ nguyện vọng của vua Tự Đức – một nhà thơ kiệt xuất, trữ tình và thơ mộng. Lăng Tự Đức được xem là một bài thơ tuyệt tác, một bức tranh sơn thủy hữu tình. Thông qua đó, cũng nói lên được phần nào về tính cách, sự bế tắc của nhà vua trong những năm cuối đời khi đứng trước vận mệnh khó khăn của đất nước.

Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng), bắt đầu xây dựng vào năm 1840 nhưng một năm sau thì vua Minh Mạng băng hà, sau đó vua Thiệu Trị cho người tiếp tục việc xây dựng lăng mộ theo ý nguyện của vua cha, đến năm 1843 lăng Minh Mạng được hoàn thành.

Lăng là một tổng thể kiến trúc quy mô gồm khoảng 40 công trình lớn nhỏ, nằm trên một khu đồi núi sông hồ thoáng mát. Các công trình kiến trúc được bố trí đối xứng nhau thành từng cặp qua trục chính xuyên tâm lăng. Ở phần trước lăng mật độ kiến trúc thưa, thoáng càng vào sâu mật độ kiến trúc càng dày hơn.

Đền Huyền Trân Công Chúa, nằm cách thành phố Huế khoảng 7 km về phía Tây, tại phường An Tây, được xây dựng vào năm 2006. Huyền Trân Công chúa chính là người đã hy sinh tuổi thanh xuân của mình vì mục đích chính trị của nước Đại Việt và Champa, năm 1306, công chúa được Thượng hoàng Trần Nhân Tông gả cho quốc vương Champa là Chế Mân để đổi lấy hai châu Ô, Lý (vùng đất Quảng Trị đến đèo Hải Vân ngày nay). Hiện nay, đền tọa lạc trên diện tích khá rộng hơn 28 ha, nằm dưới chân núi Ngũ Phong, đây là một cụm quần thể kiến trúc truyền thống bốn bề đồi núi trùng điệp, phong cảnh hữu tình. Bên trong đền thờ có pho tượng công chúa Huyền Trân ngồi trên ngai được đúc bằng đồng, tượng cao 2,37m; phía sau đền thờ Huyền Trân, nằm trên một ngọn đồi cao có đôi rồng chầu là đền thờ của đức vua anh minh, cha của Huyền Trân – vua Trần Nhân Tông. Ngoài ra, nơi đây còn có nhiều công trình kiến trúc lớn nhỏ khác nhau như: tháp chuông Hòa Bình cao 7m trên đỉnh Ngũ Phong, tượng phật Di Lặc khổng lồ…

Điểm đến tiếp theo của chuyến thực tế đó là tỉnh Quảng Nam với hai di sản văn hóa lớn là Thánh địa Mỹ Sơn, phố cổ Hội An cùng với viện bảo tàng Chăm Đà Nẵng.

Thánh địa Mỹ Sơn thuộc xã Duy Phú, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam cách thành phố Ðà Nẵng khoảng 70km về phía tây nam, cách Trà Kiệu khoảng 10km về phía tây trong một thung lũng kín đáo. Đây là thánh địa Ấn Độ giáo của các vương triều Champa khi đóng đô tại vùng đất Quảng Nam này. Những đền thờ chính ở Mỹ Sơn thờ một bộ Linga-Yoni hoặc hình tượng của thần Siva - Ðấng bảo hộ của các dòng vua Champa.

Với hơn 70 công trình kiến trúc bằng gạch đá, được xây dựng từ thế kỷ thứ 4 đến thế kỷ 13, Mỹ Sơn được xem là một trung tâm kiến trúc quan trọng nhất của Vương quốc Chămpa lúc bấy giờ. Vào năm 1898, di tích Mỹ Sơn được phát hiện bởi một học giả người Pháp tên là M.C Paris. Nhưng đến những năm 1903-1904 thì những tài liệu cơ bản nhất về bia ký và nghệ thuật kiến trúc Mỹ Sơ mới được L.Finot chính thức công bố.

Những ngôi đền tháp ở đây được xây dựng trên một mặt bằng tứ giác, chia làm 3 phần: Ðế biểu hiện thế giới trần gian, vững chắc. Thân tháp tượng hình của thế giới thần linh, kỳ bí mê hoặc. Mái tháp được trang trí hình người dâng hoa trái theo nghi lễ hoặc hình cây lá, chim muông, voi, sư tử... động vật gần gũi với tôn giáo và cuộc sống con người. Đây được xem là những tác phẩm điêu khắc tiêu biểu mang đậm giá trị văn hóa của một tộc người, và hơn hết nó như một chứng tích sống động về việc từng tồn tại của một vương triều cổ. Vào tháng 12 năm 1999 khu di tích Mỹ Sơn đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới .

Phố cổ Hội An (thương cảng Hội An) nằm ở hạ lưu sông Thu Bồn, cách thành phố Đà Nẵng 30km về phía Đông Nam. Thương cảng Hội An hình thành trong khoảng thế kỷ 15-16, thịnh đạt nhất trong thế kỷ 17-18. Nửa đầu thế kỷ 17, Hội An được xem như một trung tâm mậu dịch lớn nhất của Đàng Trong và cả nước Đại Việt, tại đây còn có các khu s“phố Nhật”, “phố Khách”, có thương điếm Hà lan…điều nay đã biến nó trở thành một trung tâm giao lưu kinh tế rộng lớn, một Đô thị- Thương cảng có tầm cỡ quốc tế.

Hội An còn là trung tâm giao lưu văn hoá Đông - Tây, là một trong những cái nôi chính hình thành chữ Quốc ngữ, là trung tâm truyền bá đạo Thiên chúa, đạo Phật ở lúc bấy giờ.

Đô thị - Thương cảng Hội An với hạt nhân Phố cổ là di tích lịch sử, là di sản văn hóa vô giá thuộc loại quý hiếm trên thế giới đã được Chính phủ CHXHCN Việt Nam công nhận và xếp hạng di tích Quốc gia vào năm 1985. Ngày 01-12-1999, UNESCO công nhận Khu Phố cổ Hội An là Di sản Văn hoá Thế giới đã là khẳng định vị trí và sự góp mặt của Di sản Văn hoá Hội An trong kho tàng Di sản Văn hoá nhân loại.

Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng Tọa lạc tại số 2, đường 2/9, quận Hải Châu, Đà Nẵng với tổng diện tích 6.673 m², trong đó phần diện tích trưng bày là 2.000 m². Đây là bảo tàng trưng bày hiện vật Chăm quy mô nhất ở Việt Nam, trực thuộc Bảo tàng Đà Nẵng do người Pháp xây dựng, chuyên sưu tập, cất giữ và trưng bày các di vật về nghệ thuật điêu khắc của vương quốc Chăm Pa tìm thấy ở các tháp, thành lũy Chăm tại các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ từ Hà Tĩnh tới Bình Thuận và các tỉnh Tây Nguyên. Các hiện vật tại bảo tàng được phân chia theo các gian phòng tương ứng với các khu vực địa lý nơi các nhà khảo cổ phát hiện được gồm phòng Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương, Tháp Mẫm và các hành lang Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Kon Tum, Quảng Bình và Bình Định.

Chuyến thực tế chuyên môn tại các tỉnh miền Trung đã mang lại nhiều bài học bổ ích, những kinh nghiệm quý báu đối với các bạn sinh viên chuyên ngành Lịch sử. Thực tế là dịp để các bạn kiểm chứng, cụ thể hóa những kiến thức đã được học ở giảng đường vào thực tiễn. Là cơ hội để trau dồi những vốn kiến thức, tri thức mới mà sách vỡ chưa đề cập đến. Chuyến đi đã giúp các bạn hiểu nhiều hơn về những giá trị lịch sử, văn hóa của các công trình kiến trúc mà các bậc tiền nhân đã tạo ra, thông qua đó giúp cho các bạn sinh viên có cái nhìn xác đáng, sinh động và chân thực hơn về lịch sử đã xảy ra, loại bỏ đi những cách nhìn máy móc, khô khan về lịch sử. Từ đó, hun đúc thêm niềm say mê, yêu nghề và biết quý trọng giữ gìn những giá trị bất hữu ấy. Bên cạnh đó những thông tin thu thập được từ chuyến đi sẽ là những nguồn tư liệu quý phục vụ cho việc học tập và công việc sau này của mỗi bạn sinh viên. Xin cảm ơn nhà trường, các thầy cô bộ môn Lịch sử đã tạo điều kiện và dẫn dắt chúng em hoàn thành chuyến đi thực tế bổ ích này.

* Tài liệu được tham khảo từ thực tế chuyến đi

Mỹ Ngọc - DH11SU

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.