Như chúng ta đã biết Đại tướng Võ Nguyên Giáp được Hội đồng khoa học Hoàng gia Anh vinh danh 10 nhân vật quân sự lỗi lạc nhất của mọi thời đại. Điều đặc biệt, trong số những người được vinh danh, duy nhất Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhân vật lịch sử còn sống. Chiến tranh nhân dân Việt Nam đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật quân sự mà ông là người thổi hồn vào đường lối nghệ thuật quân sự trong chiến tranh toàn dân, toàn diện, kháng chiến trường kỳ ở Việt Nam đã đánh bại và làm phá sản đường lối chiến tranh và các chiến lược của các đế quốc hùng mạnh nhất thế kỷ 20.

Xuất thân từ một nhà giáo, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trở thành một nhà cầm quân kỳ tài, một tầm cao tư duy về nghệ thuật chiến tranh nhân dân của dân tộc với cốt cách, đức độ của bậc hiền nhân được khắc sâu trong tâm khảm mỗi người Việt Nam cũng như trong lòng nhiều vị lãnh đạo và nhân dân các nước bầu bạn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911, là một nhà chỉ huy quân sự và nhà hoạt động chính trị Việt Nam. Là đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông chỉ huy chính trong hai giai đoạn chiến tranh ở Việt Nam: kháng chiến chống Pháp (1946–1954) và kháng chiến chống Mỹ (1960–1975). Ông tham gia vào nhiều chiến dịch quan trọng như Chiến dịch Biên giới thu đông 1950, Trận Điện Biên Phủ (1954), Chiến dịch Tết Mậu Thân (1968), Chiến dịch năm 1972, Chiến dịch Hồ Chí Minh. Ông là nhà chỉ huy quân sự nổi bật nhất bên cạnh Hồ Chí Minh trong suốt cuộc chiến và lãnh đạo nhiều chiến dịch lớn cho đến khi chiến tranh kết thúc.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị tổng tư lệnh đầu tiên của các lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam, một vị tướng tài kiệt xuất. Ông tiếp thu được đạo đức, tác phong của Chủ tịch Hồ Chí Minh, là người học trò yêu và ưu tú của Bác Hồ. Sống một cuộc đời trong sạch, lành mạnh, nhân hậu, yêu mến và chan hòa với cán bộ chiến sỹ. Quân đội và nhân dân đều yêu mến ông. Đó là phần thưởng quý giá nhất của ông.

Với nhãn quan của một vị thánh hiền, Bác Hồ đã chọn ông làm người chỉ huy Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân (1944). Đại tướng - Tổng tư lệnh Võ  Nguyên Giáp là người chỉ huy tối cao của quân đội ta trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ của dân tộc. Ông vừa là người cùng với Bộ thống soái đề ra những quyết sách chiến lược, vừa là người trực tiếp chỉ huy thực hiện các quyết sách đó. Ở vào mỗi thời điểm cực kỳ khó khăn và hệ trọng đối với vận mệnh của đất nước. Đại tướng - Tổng tư lệnh luôn thể hiện xuất sắc bản lĩnh cách mạng, tinh thần trách nhiệm, đưa ra những quyết sách chiến lược rất đúng đắn và chuẩn xác.

Dưới sự chỉ đạo của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, tài năng của ông ngày càng được bộc lộ và phát huy, đã đóng góp rất lớn cho nền nghệ thuật quân sự Việt Nam.

Thu Đông năm 1947, trong chiến dịch phản công tại Việt Bắc, quân và dân ta đã đánh tan cuộc tiến công chiến lược của quân Pháp định “cất vó” tiêu diệt cơ quan đầu não của cách mạng Việt Nam. Đó là thành công bước đầu, rất lớn của ông về mặt chỉ huy chiến dịch - chiến lược.

Cũng trong giai đoạn này, ông là người đầu tiên đưa ra luận điểm “đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung” rất hay và chính xác. Phương pháp luận đó là kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy, phù hợp với đường lối chiến tranh nhân dân của Đảng.

Ở chiến dịch biên giới năm 1950, lúc đầu ta chủ trương đột phá Cao Bằng. Nhưng sau khi ông trực tiếp trinh sát thực địa, đánh giá tình hình: Ở đây quân địch rất đông, phòng ngự mạnh, địa hình có sông ngăn cách không thuận lợi cho tiến công, từ đó, để bảo đảm chắc thắng và tiết kiệm xương máu của chiến sỹ, ông đã quả cảm, quyết đoán đề nghị chuyển sang đột phá Đông Khê và đã được Hồ Chủ tịch phê chuẩn.

Bác Hồ đã trực tiếp tham gia chỉ đạo chiến dịch và vạch ra ý đồ tác chiến là “nhử thú dữ vào tròng - khép vòng lưới thép” tiêu diệt chúng. Còn ông chỉ huy bộ đội thực hiện “vận động chiến” và mưu kế “đánh điểm - diệt viện”. Quân ta kiên cường chiến đấu và đã giành thắng lợi lớn ở Đông Khê. Bị mất Đông Khê, quân địch từ Thất Khê lên ứng cứu, đã bị ta chặn đánh và tiêu diệt, quân địch ở Cao Bằng vội vã rút chạy cũng bị ta bao vây, tiêu diệt và bắt sống cả chỉ huy của hai cánh quân này.

Nhờ mưu kế hay, cách đánh giỏi nên ta đã đánh một mà được hai. Hệ thống phòng tuyến đường số 4, vành đai khép chặt biên giới mà địch đã dày công xây dựng bị phá vỡ tan tành. Từ đó căn cứ cách mạng của ta được nối liền với các nước xã hội chủ nghĩa. Đến Đông Xuân 1953-1954, mưu kế chiến lược của Đại tướng - Tổng tư lệnh được thể hiện rất tài tình. Ông đã thành công trong việc phân tán lực lượng cơ động của địch và đánh địch trên khắp chiến trường Đông Dương, bằng các biện pháp nghi binh, lừa địch mà chính Tướng Nava cũng phải thú nhận rằng có đến hơn 80% lực lượng cơ động của quân Pháp đã bị phân chia ra các chiến trường. Đến khi ta tiến công Điện Biên Phủ thì lực lượng cơ động của địch không thể tập trung lớn để đối phó được nữa.

Còn trên chiến trường chính - Điện Biên Phủ - Ông đã quả cảm, quyết đoán đề nghị thay đổi phương châm tác chiến từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc” đã được Thường vụ Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí  Minh phê chuẩn. Ông phải trải qua những trăn trở cực kỳ khó khăn trước khi đưa ra sự thay đổi những phương châm tác chiến này. Mặc dù trận địa đã được bố trí, pháo lớn đã kéo lên vị trí chiến đấu với biết bao công sức và xương máu, nhưng ông vẫn quyết tâm cho đưa pháo xuống, rồi lại kéo lên.

Lần đầu tiên ở Việt Nam và cũng là rất hiếm ở trên thế giới cho kéo pháo lên núi cao, từ phòng trú ẩn chĩa pháo thẳng xuống đầu kẻ địch mà chế áp. Với cách đánh này, vừa bảo vệ được pháo, tránh được sát thương do pháo và máy bay địch gây ra, vừa nâng cao được uy lực và mức chính xác cao, khiến cho ngay viên chỉ huy pháo binh của Pháp là Piroth phải tự sát vì hoảng loạn và quá bất ngờ.

Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tiếp tục giữ cương vị là người đứng đầu quân đội, cùng với Bộ Chính trị hoạch định những quyết sách chiến lược. Để giáo dục cho quân đội, ông đã viết lý luận về đường lối quân sự của Đảng để tiến hành chiến tranh nhân dân, nêu cao tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh.

Trong lúc cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam diễn ra gay go ác liệt, để tạo thực lực về cơ sở vật chất và lực lượng cho cách mạng miền Nam, ông đã đề xuất với Bộ Chính trị và Hồ Chủ tịch cho mở tuyến chi viện chiến lược Trường Sơn. Con đường chiến lược Hồ Chí Minh được hình thành từ đó, đã tiếp sức cho cách mạng miền Nam và tiến thẳng đến dinh lũy của kẻ địch vào ngày toàn thắng.

Khi đế quốc Mỹ đưa quân vào miền Nam để đẩy mạnh “chiến tranh cục bộ”, với hỏa lực mạnh, phương tiện cơ động cao. Để đánh bại được quân Mỹ, từ thực tiễn chiến trường, bộ đội Tây Nguyên đã đề ra chiến thuật “chốt kết hợp với vận động”. Khi đem chiến thuật này ra Bắc báo cáo, đã được Đại tướng- Tổng tư lệnh và Bộ Tổng Tham mưu sửa lại là “Vận động tiến công kết hợp chốt”, thể hiện tinh thần tiến công mạnh mẽ hơn.

Nhờ đó, mùa Đông năm 1967, trong chiến dịch Đắc Tô 1, bộ đội Tây Nguyên đã thành công và hoàn thiện chiến thuật “Vận động tiến công kết hợp chốt”, mở ra khả năng mới đánh tiêu diệt những đơn vị quân Mỹ trên chiến trường. Lần đầu tiên ở Tây Nguyên, bộ đội ta đã đánh thiệt hại nặng lữ đoàn dù 173 là lữ đoàn cơ động chiến lược của Mỹ, làm cho quân Mỹ bị choáng váng, chùn bước tiến vào căn cứ của ta.

Khi chiến cục Đông Xuân năm 1975 bước vào giai đoạn quyết định, thấm nhuần tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị là giải phóng miền Nam trong năm 1975 và 1976, trước hết là giải phóng Tây Nguyên, ông dùng chiến lược đánh địch thật tuyệt vời. Bằng cách giăng địch ra hai đầu Nam - Bắc chiến tuyến và kìm địch ở Huế, Đà Nẵng và Sài Gòn, Quân đoàn 2 kìm giữ địch ở Huế - Đà Nẵng, Quân đoàn 4 đứng chân ở Đồng Nai - bắc Sài Gòn, kìm giữ địch ở Sài Gòn và để địch sơ hở Tây Nguyên.

Khi đã giữ chặt được sư đoàn dù và sư đoàn thủy quân lục chiến Ngụy - là lực lượng cơ động chiến lược của địch ở hai đầu Nam - Bắc thì đó là thời cơ để ta tiến công địch ở Tây Nguyên. Điều hay hơn nữa, để phá vỡ Tây Nguyên một cách nhanh chóng, chuyển hóa cả thế và lực. Ông đã bất ngờ tăng thêm cho lực lượng ta ở Tây Nguyên hai sư đoàn nữa. Tây Nguyên từ chỗ ta có 2 sư đoàn trở thành có 4 sư đoàn, đã trở thành một quả đấm chủ lực mạnh.

Chiến dịch Tây Nguyên được mở màn với trận then chốt quyết định - giải phóng Buôn Ma Thuột, đã thực hiện xuất sắc nhiệm vụ mà Bộ Chính trị và Đại tướng - Tổng tư lệnh giao cho. Tiếp đến quân ta đánh bại phản kích của địch, tiêu diệt sư đoàn 23 dẫn đến một sự bùng nổ về chiến thuật và tạo ra phản ứng dây chuyền làm cho tập đoàn lớn của địch ở Pleiku và Kon Tum chưa bị đánh đã phải tháo chạy. Phản ứng dây chuyền tạo ra đột biến về chiến dịch. Địch ở Tây Nguyên bị phá vỡ, tạo ra một cục diện chiến tranh mới, đẩy địch vào thế hỗn loạn về chiến lược và đi xuống con đường suy sụp nhanh chóng.

Ngay khi chuẩn bị giải phóng Tây Nguyên, ông cũng đã phán đoán đến khả năng: Nếu địch bị thua đau ở Tây Nguyên, chúng có thể sẽ rút chạy về co cụm ở đồng bằng. Quả đúng như vậy, từ đó ông đã chủ động gối đầu chiến dịch Huế - Đà Nẵng và kế tiếp chiến dịch Hồ Chí Minh với thế đánh địch “như chẻ tre”.

Thời cơ lịch sử đã đến, với sự nhạy bén và quyết đoán của nhà chiến lược quân sự. Ông đã chỉ huy các mũi tiến công của đại quân ta bằng mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam; thống nhất đất nước! ” (Mệnh lệnh nổi tiếng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong Chiến dịch Hồ Chí Minh).

Mệnh lệnh của Ông vừa là tiếng kèn xung trận vừa là kết tinh của một tư duy quân sự thiên tài trước thời khắc hệ trọng lịch sử của dân tộc. Ông là người đứng đầu quân đội ta từ ngày đầu thành lập đến ngày chiến thắng cuối cùng. Ông đã dẫn dắt quân đội vượt qua muôn vàn khó khăn, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và đi đến ngày toàn thắng trọn vẹn.

Là thế hệ trẻ hôm nay sinh ra và lớn lên trong thời kỳ thống nhất. Tuy không được chứng kiến thời khắc hào hùng của dân tộc, nhưng qua những trang sách, tôi cũng đã cảm nhận sâu sắc về một vị tướng tài ba gắn liền với chiến thắng Điện Biên Phủ mãi mãi là niềm tự hào, là biểu tượng sáng ngời của ý chí quyết tâm và sức mạnh của dân tộc Việt Nam. Những tấm gương chiến đấu dũng cảm của thế hệ thanh niên trong chiến dịch Điện Biên Phủ mãi mãi là phần quan trọng trong hành trang của mỗi bạn trẻ chúng ta trên con đường đi tới, đồng thời đặt cho mình một trách nhiệm nặng nề nhưng rất vinh quang đối với Tổ quốc và nhân dân.

Thông qua những trang sách sử, tôi đã từng đọc được lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp căn dặn: "Cần phải phát huy tinh thần của chiến thắng Điện Biên năm xưa vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay". Đây là niềm tự hào, vừa là trọng trách to lớn đặt lên vai thế hệ trẻ. Theo tôi, mỗi bạn trẻ trên những lĩnh vực khác nhau, hãy tạo cho mình những kỳ tích, để mỗi thanh niên hãy thực sự là một chiến sĩ Điện Biên trên lĩnh vực của mình.

Có thể nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã tiếp thu, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa những truyền thống tinh hoa của dân tộc, trí tuệ dân tộc. Qua đấu tranh rèn luyện trong thực tiễn chiến tranh mà sáng tạo ra những lý luận quân sự trong thời đại mới. Ông đã đóng góp lớn lao vào kho tàng lý luận quân sự Việt Nam. Võ Nguyên Giáp là một vị tướng chỉ huy có tài thao lược, trí tuệ quân sự, mưu kế chiến lược, lý luận quân sự sáng tạo, được lãnh tụ Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện và được thực tiễn cuộc chiến tranh cách mạng hun đúc nên đã tạo ra một vĩ tướng văn - võ song toàn, một vị tướng của nhân dân, vị tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam - một đội quân cách mạng có bề dày truyền thống lịch sử vẻ vang.

Tham khảo:

Giáo trình Lịch sử Viêt Nam giai đoạn 1945 - 1954. Nxb ĐHSP

Giáo trình  Lịch sử Viêt Nam giai đoạn 1954 - 1975. Nxb ĐHSP

Viện Lịch sử quân sự Việt Nam. Lịch sử quân sự Việt Nam, tập 12 – Những nhân tố hợp thành sức mạnh Việt Nam thắng Mỹ. Nxb chính trị Quốc Gia

Anh Chi. Đại tướng Võ Nguyên Giáp – một thế kỷ hai cuộc trường chinh. Nxb Kim Đồng 

Mỹ Ngọc - DH11SU

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.