Con người có tánh linh, ở người nghệ sỹ yếu tố ấy càng tinh anh hơn. Người nghệ sỹ không chỉ có được sự rung động nhạy bén trước những yếu tố mà người thường chưa kịp cảm nhận mà họ còn được ban cho một khả năng độc đáo là dự đoán được tương lai. Cái dự đoán này phần nhiều mang tính chất định tính chứ không phải từ những thứ cụ thể có thể đo lường, định lượng được như cách làm việc của các nhà khoa học thực nghiệm. Thế mà, từ thực tế và kết quả của cuộc đại thắng mùa xuân năm 1975, ta thấy yếu tố dự cảm của các nhạc sỹ bắt nguồn từ sự phân tích định tính lại chính xác hết sức thú vị.

Có thể thấy rõ, từ năm 1968, các mũi tiến công của quân cách mạng Giải phóng miền Nam đã hình thành mà tiêu điểm của các mũi ấy dù công khai hay bí mật đều nhắm vào Sài Gòn, thủ phủ của chế độ Việt Nam Công hòa lúc bấy giờ. Trên mọi mặt trận, mọi địa bàn đều hừng hực khí thế chiến đấu cho công cuộc giải phóng Miền Nam. Các nghệ sỹ dù là người trực tiếp tham gia với các binh đoàn hay những người đang sản xuất ở Miền Bắc, chi viện cho Miền Nam, thậm chí cả những người đang hoạt động trong lòng địch cũng đều có niềm tin mãnh liệt vào kết quả toàn thắng của cuộc cách mạng thống nhất đất nước.

Cái dự cảm có khi bắt nguồn từ những điều bất ngờ (nếu theo suy nghĩ thông thường), như là: “Nghe tiếng súng trong đêm khuya, mà lòng em mừng khấp khởi” (Nghe tiếng pháo Khe Sanh – Đức Nhuận, 1968); Có những dự cảm lại từ những dữ liệu mang tầm rộng hơn đó là quy mô và sự mở rộng của các mặt trận liên kết. Từ năm 1970, nhạc sỹ Phạm Tuyên đã cất lên Lời ca chiến thắng vang vọng Trường Sơn, đó là: “Bên kia Trường Sơn súng diệt Mỹ vang gần xa. Bên này Trường Sơn có ngàn tiếng súng đang cùng hòa”; Đó cũng là dự báo có được từ sự đoàn kết của ba nước Đông Dương chung một kẻ thù: “Việt – Lào – Khơmer sát vai bên nhau cùng một trận tuyến chúng ta thấm mối tình sâu. Đế quốc Mỹ phải tan. Trên núi sông đẹp tươi rộn ràng lời ca” (Cảm ơn đường Hồ Chí Minh – Nhạc và lời: Nô-rô-đôm Xi-ha-núc, 1973)

Trong Bài ca Trường Sơn, viết năm 1968, Nhạc sĩ Trần Chung và nhà thơ Gia Dũng đã có tâm thế hết sức vững vàng trên đường tiến công. Người chiến sỹ đã nghe: “Cả Miền Nam đang gọi chúng ta đi” và họ đã lao về trước với một khí thế: “Đi ta đi tung cánh đại bàng vang khúc nhạc hùng giải phóng miền Nam. Giải phóng miền Nam”. Với sự lập lại của câu cuối hai lần vừa mang tính dự báo lại là sự khẳng định chân lý và niềm tin chiến thắng. Cái điều thôi thúc người chiến sỹ ra đi chính là: “Ta đi theo ánh lửa từ trái tim mình” (Bước chân trên dãi Trường Sơn – Vũ Trọng Hối, 1966).

Với một sự nhạy cảm tuyệt vời, Nhạc sỹ Huy Du và nhà thơ Xuân Sách trong Đường chúng ta đi, năm 1968, đã thấy được tương lai: “Lời mẹ nói ấm lành ngọn gió. Đàn em vui ríu rít mái trường. Ta đi đường rợp bóng hàng dương. Đất bom đào đã lên màu cỏ mới”. Nếu ta nhớ lại lịch sử chiến đấu khốc liệt và nhiều hy sinh mất mát của cách mạng trong năm 1968 thì mới thấy được niềm tin vào chiến thắng của dân tộc đã được các nhạc sỹ cảm nhận và thể hiện dự báo qua tác phẩm đi trước thời đại của mình.

Cái niềm tin và dự cảm của người nghệ sỹ có khi lại được bắt nguồn từ tâm thức dân tộc, từ cái chung gốc Con Rồng - Cháu Tiên, từ những tiền đề chiến thắng trong lịch sử. Anh vẫn hành quân với một tâm thế: “Máu Điện Biên anh hùng, anh đi khắp núi rừng” và luôn tâm niệm rằng: “Dòng Cửu Long xa tắp. Nước sông Hồng miền Bắc. Đôi dòng chung miếng đất” (Anh vẫn hành quân – Huy Du,1964). Cái tâm thức, đất nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một đã làm nên “chất keo” kết dính toàn thể cùng đứng vào một hàng ngũ, kề vai sát cánh đấu tranh thống nhất nước nhà.

Lời kêu gọi Giải phóng miền Nam (Lưu Hữu Phước, 1961), vừa là tiếng kèn xung trận mà cũng là tiếng kèn khải hoàn: “Vận nước đã đến rồi, bình minh chiếu khắp nơi”. Với Lưu Hữu Phước, nhạc sỹ của hành khúc và anh hùng ca, ông còn có nhiều dự báo hơn cho chiến thắng chung cuộc. Những dự cảm của nhạc sỹ có được có thể bắt nguồn từ những gương hy sinh anh dũng trong chiến đấu, trong tinh thần anh dũng bất khuất trước quân thù của lớp lớp thanh niên Việt Nam. Ông đã thấy: “Một người rơi, mười người tiến. Ngàn triệu thanh niên đang vượt lên. Giành lấy chính quyền về tay nhân dân” (Xuống đường – Lưu Hữu Phước, 1966). Điểm đặc biệt của Lưu Hữu Phước là trong nhiều ca khúc của ông luôn thấy thấp thoáng khẩu hiệu: “Giành lấy chính quyền về tay nhân dân”.

Dự cảm của nhạc sỹ còn có được từ phong trào đấu tranh nội thành của lực lượng sinh viên, công nông và trí thức. Từ trong lòng địch, một khí thế đấu tranh hừng hực, làm cho kẻ thù phải bối rối, chùng tay trong nhiều hành động. Mỗi lực lượng là một mũi tiến công, mỗi người không phân biệt nghề nghiệp, giới tính, tuổi tác đều trở thành chiến sỹ: “Có người mẹ Bàn Cờ! tay gầy tóc bạc phơ. Chuyền cơm qua vách cấm… Có người chị Bàn Cờ, lính ngồi gác đầy sân… nhận sinh viên làm chồng…” (Người mẹ Bàn Cờ - Trần Long Ẩn, 1970). Và hình ảnh đặc trưng cho cuộc chiến tranh toàn dân:“Một tay súng. Một tay cày. Dân tôi suốt đêm ngày. Hò reo giữ non sông này. Còn bao lâu vẫn gồng gánh cho muôn đời Việt Nam ơi!” (Tiếng hát vang dậy đồng khô Tôn Thất Lập, 1966). Niềm tin vào chiến thắng bắt nguồn từ nhận thức thực tế của cuộc kháng chiến, của sự lớn mạnh về lực lượng trong toàn quân, toàn dân. Tất cả hòa quyện lại tạo nên một khí thế dũng mãnh tiến công, tạo nên niềm tin tất thắng.

Người chiến sỹ vượt Trường Sơn, vượt qua bao nỗi hiểm nguy, ranh giới giữa cái chết và sự sống rất mong manh thế nhưng trong sâu thẳm của họ luôn đặt niềm tin vào thắng lợi. Họ hát vang lên: “Chào em, em gái tiền phương, ơi em gái tiền phương! Hẹn gặp nhé, giữa Sài Gòn!” (Lá đỏ - Hoàng Hiệp, 1975). Đây là niềm tin của người chiến sỹ nhưng cũng là dự cảm của nhà thơ Nguyễn Đình Thi hòa cùng với cảm xúc của nhạc sỹ Hoàng Hiệp làm nên tác phẩm âm nhạc hùng tráng, đầy lạc quan. Cảm xúc này hết sức dâng trào và hừng hực khí thế chiến thắng, tác phẩm này ra đời vào những ngày tháng đầu năm 1975, những ngày đã cận kề chiến thắng. Hoàn toàn tự tin vào thắng lợi: “Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn”.

Còn nhiều lắm không thể kể ra hết những dự cảm, dự báo của giới nghệ sỹ đi trước kết quả kháng chiến của dân tộc. Những điều liệt kê ở trên chỉ là một phần quá nhỏ so với thực tế đã có. Khi cuộc kháng chiến chưa đến hồi kết thúc, với dự cảm tinh tế, nhạc sỹ Phạm Tuyên đã viết nên ca khúc Như có Bác trong ngày đại thắng, đó là khúc hát khải hoàn sớm cất lên, đi trước thực tế. Chỉ có người nghệ sỹ với trái tim và khối óc tinh tế mới đưa ra được dự cảm đúng đắn như thế.

Khi sáng tác bài hát này nhạc sỹ Phạm Tuyên đang công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam. Tin tức từ khắp nơi tới tấp bay về và ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đến rất gần đã thôi thúc ông phải viết một bài ca mừng ngày giải phóng. Đặc biệt, ngày 28-4-1975, trên Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát đi bản tin phi công của không lực Việt Nam cộng hòa đã ném bom xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Theo nhạc sỹ Phạm Tuyên, khi nghe thông tin này, trong người ông xuất hiện cảm xúc rất khó tả, và ông tin chắc chắn rằng đất nước sắp được thống nhất” (Những bài ca đi cùng năm tháng – Nguyễn Thanh Bình)

Cũng với tâm trạng như thế, nhạc sĩ Hoàng Hà đã viết nên ca khúc Đất nước trọn niềm vui vào trọn trong đêm 26-4-1975, dù tác giả chưa một lần đặt chân đến Sài Gòn, nhưng cảm xúc của bài hát đem đến thật khó tả. Cho đến hôm nay, mỗi khi tháng 4 về, nghe ca khúc này vang lên ta vẫn thấy hừng hực khí thế của khúc khải hoàn, vẫn còn thấy cả một rừng người với cờ sao tung trời.

Nhạc sỹ tâm sự: “…Sở dĩ Đất nước trọn niềm vui được như thế, chính là kết quả của cả một quá trình tích lũy, gần thì phải kể từ cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968, thậm chí là trước nữa. Nhiều yếu tố cộng lại dần dần để rồi bùng phát ở một thời điểm” (Những bài ca đi cùng năm tháng – Nguyễn Thanh Bình)

Sau những ngày tưng bừng mừng chiến thắng là những ngày phải thiết lập trật tự và xây dựng cái mới; với một sự nhạy cảm tuyệt vời, nhạc sỹ Văn Cao đã cất lên giai điệu mừng đất nước với một ngôn ngữ âm nhạc của riêng ông. Bản Valse với giai điệu dìu dặt, nhẹ nhàng, thanh thản được vang lên hết sức sang trọng, như một sự dự báo cho  tương lai của đất nước đang bắt đầu ở giai đoạn mới: “Từ đây người biết quê người. Từ đây người biết thương người. Từ đây người biết yêu người.” (Mùa Xuân đầu tiên – Văn Cao, 1976)

“Giữa những khúc hoan ca mừng ngày chiến thắng, người ta vẫn bắt gặp một khúc ca lặng lẽ suy ngẫm về cuộc sống. Nó lột tả cái chiều sâu trong cuộc đời một con người đã từng trải qua nhiều đau thương và mất mát. Có thể nói Mùa xuân đầu tiên là một sự khẳng định một chân lý bình dị sẽ và đã trở lại với cuộc sống con người” (Những bài ca đi cùng năm tháng – Nguyễn Thanh Bình).

Viết về những ca khúc và những nhạc sỹ có những dự cảm về mùa xuân thắng lợi của dân tộc là một suy nghĩ đã có từ lâu mà tôi chưa có đủ tư liệu và điều kiện để thực hiện. Lần này trong sự may mắn có được tư liệu 581 bài hát từ quyễn Hành khúc giải phóng – Lư Nhất Vũ – Lê Giang – Lê Anh Trung và bộ Những bài ca đi cùng năm tháng – Nguyễn Thanh Bình, tôi đã bước đầu sơ lược viết lên những suy nghĩ của mình về tác giả tác phẩm. Việc làm này là hoạt động nghiên cứu, tìm hiểu tâm thức của người nghệ sỹ trong sáng tác của bản thân người viết; đồng thời cũng là một động thái tôn vinh những chiến sỹ anh hùng đã xã thân vì nền thống nhất nước nhà.

Nguyễn Đăng Khoa - K.VHNT

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.