Mới 8 giờ rưỡi sáng, bạn Nguyễn Văn H. sinh viên năm thứ II lớp Đại học Toán thất thểu trở về nhà trọ. Hôm nay, nó thi môn Chủ nghĩa xã hội khoa học, thời gian dành cho môn Khoa học Mác-Lênin này trung bình là 2 tiếng đồng hồ, ấy vậy mà chỉ mới 1 giờ sau khi phát đề, tôi đã thấy nó trở về nhà trọ. Ngạc nhiên, tôi vụt hỏi:“Bữa nay thi môn Chính trị mà sao em về sớm quá vậy?”.Với khuôn mặt buồn buồn, nó trả lời tôi:“Em học thuộc hết trơn chỉ bỏ có 2 câu, vậy mà đề thi cho ngay 2 câu đó mới ác chứ, xui thiệt, chuẩn bị thi lần 2 chứ đâu!”. Từ phòng trọ kế bên, nhỏ H. sinh viên năm III cao đẳng Văn lên tiếng:“Đừng có lo, đề lần 2 không cho hai câu đó nữa đâu, mấy câu kia thuộc hết thì sợ gì thi hổng qua”.

Những lời trò chuyện như thế đối với sinh viên bọn tôi không còn là chuyện lạ lẫm gì nữa, thậm chí đó là những lời thăm hỏi động viên thiết thực nhất đối với những bạn “lỡ xui” bị lọt “vào vòng chung kết”. Chợt nhớ lại bài viết của bạn Phương Thùy -4C1, ừ, đúng là vậy, phần lớn sinh viên trường mình có tâm lí học tập như thế .Sáng thứ Ba, đang ngồi trước băng ghế đá nhà trọ, nhỏ Nguyễn Thị T. L.- sinh viên năm thứ II nghành Công nghệ thực phẩm xách cặp chạy lại hỏi tôi:“Em học thuộc 15 trên tổng số 21 câu, anh thấy khả năng thi qua chắc cao hen!”. Tôi cũng chẳng biết nói gì, quay qua cười cười : “Ừ, em ráng vận dụng hết sự hiểu của mình, những lời giảng của giáo viên để làm bài, như thế có khả năng đậu”. 

Thực trạng học tập:

Bộ môn Khoa học Mác-Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh (KHML-TTHCM) gồm năm học phần (Triết học, Kinh tế chính trị, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử Đảng) được dạy trong liên tiếp 5 học kì đầu của mỗi khóa học. Nhìn chung, đây là những môn học  quan trọng không thể thiếu, nó có tác dụng trang bị những kiến thức chính trị, tư tưởng làm nền tảng cho sinh viên trong nghề nghiệp sau này; đồng thời, cũng góp phần to lớn vào việc tuyên truyền chủ trương chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước…Vai trò quan trọng là như thế, cần thiết là như thế còn thực trạng học tập của sinh viên như thế nào, các môn học đã được các sinh viên nghiên cứu học tập một cách có hiệu quả chưa, đó là vấn đề cần bàn.

Chiều ngày 13-4, khi đang học môn TTHCM, trong lúc một số người chú tâm vào bài giảng của cô ( các bạn ngồi những bàn trên cùng) thì một số khác lại tập trung vào công việc riêng của mình. Bạn Nguyễn Thanh P. ngồi cùng bàn với tôi lấy truyện tranh ra đọc, nhìn thấy ánh mắt của tôi nó biện hộ:“Trong giáo trình cô đưa cho lớp photo có đủ hết trơn rồi, cô chỉ nói lại thôi, tôi đọc cái này cho đỡ buồn ngủ”; còn xung quanh thì lào rào tiếng nói chuyện, người thì lấy giáo trình môn khác ra đọc, người thì viết giấy chuyền lao nhao…Lớp ghép với gần 100 người ngồi lản nhản khắp nơi trong hội trường rộng lớn, học liền tù tì 3 tiết một buổi mà theo bạn Thành L. nói thì nó “giống như cực hình”.

Hỏi khắp các bạn ở lớp khác thì không khí học tập cũng chẳng khác là bao nhiêu, những điều mới giảng hôm qua hôm kia thì hôm nay số người còn nhớ chỉ trên đầu ngón tay. Các bạn lười biếng thì “tha hồ nghỉ học” vì “thầy có mấy khi điểm danh”, “lớp ghép thường lu bu lộn xộn ai mà để ý”….

Còn nhắc đến chuyện thi cử thì ai cũng lắc đầu ngao ngán. Bạn Trần Phú N. học ngành Kinh tế quản trị nói với tôi về cách học của bạn: “Trước khi thi một tháng là N. chỉ chú tâm lo học môn Chính trị, học thuộc hết nó thì cũng hết đâu 2,3 tuần rồi, thời gian còn lại thì coi mấy môn chuyên ngành. Như vậy mà còn muốn hổng kịp, quên tới quên lui, học lại giống như học từ đầu vậy. Mỗi lần thi xong môn Chính trị giống như đã vượt qua một nửa kì thi vậy, nó nhẹ thấy sợ luôn”. Vào mùa thi, những bóng dáng thấp thoáng dưới những bóng đèn cao áp trong sân trường cũng đa phần đang “dùi mài” TH hay KTCT, bạn N.H. sinh viên Sư phạm Ngữ văn biện hộ:“Mình đang học bài thi môn TTHCM, mình có cái tật ngộ lắm, chỗ đông người học không được, kiếm mấy chỗ vắng như vầy, đọc to lên vài lần là thuộc ngay”.

 Nguyên nhân của những thực trạng trên:

 Người viết xin rút ra một số nguyên nhân sau:


            Về mặt khách quan
, các môn KHML-TTHCM thường có nội dung khô khan, nghiêng về lí luận nên dễ gây tâm lí chán ngán, mệt mỏi ở sinh viên. Hơn nữa, đặc trưng bài thi các môn này đòi hỏi thí sinh phải viết đúng, trong sáng, tư tưởng rõ ràng…nên sinh viên không dám hoặc ngại “sáng tạo”(tán), do đó không thuộc bài hay không hiểu kĩ bài thì đành chịu.

 

Về mặt chủ quan:

 

 Về phía sinh viên chưa có phương pháp học phù hợp, chịu ảnh hưởng của phương pháp học truyền thống là “học thuộc lòng”; chưa có thái độ và tâm lí học tập đúng đắn nên không tích cực tham gia vào bài giảng của giáo viên, chưa đào sâu nghiên cứu tài liệu theo yêu cầu mà giáo viên giao cho; chưa có thói quen hoặc lười làm việc, đóng góp vào bài giảng của giáo viên.

Về phía nhà trường, chịu ảnh hưởng phương pháp quản lí cũ; thời gian lên lớp nhiều, sinh viên không có thời gian nghiên cứu tìm hiểu sâu; cách ra đề thi còn nghiêng về mặt trình bày, không phát huy được sự tự do tư duy, suy nghĩ của sinh viên.

Về phía giáo viên, một số ít thầy cô chưa có phương pháp dạy mới để lôi cuốn học sinh, còn nghiêng nhiều về diễn giảng; chưa tạo bài tập mang tính kích thích có vấn đề cho sinh viên tham gia giải quyết; nội dung bài giảng chưa gắn liền bài học với thực tiễn để thấy cái lợi của các vấn đề đó trong cuộc sống.

 Một số ý kiến đề xuất

 Người viết xin được đề xuất một vài ý kiến để tham khảo:

Thứ nhất, giảm thời lượng học tập trên lớp đối với các môn học này, giáo viên có thể trình bày ngắn gọn những nội dung chính theo một hệ thống hay sơ đồ dễ nhớ. Thay vào đó là cho bài tập về nhà cùng với một số yêu cầu nhất định, chia ra để sinh viên làm theo nhóm, sau đó báo cáo trên lớp (sơ đồ, máy chiếu) lấy điểm chung cho cả nhóm. Như thế, sinh viên vừa có thời gian nghiên cứu tìm hiểu rộng hơn, vừa nắm bắt nội dung một cách sâu sắc hơn. Hơn nữa, nhờ đó, sinh viên rèn luyện được kĩ năng lập luận để trình bày tốt hơn.

Thứ hai, lấy điểm theo phần trăm trong suốt quá trình học chứ không lấy toàn bộ điểm bài thi cuối học kì, như thế chất lượng học tập tốt hơn, vừa tránh tình trạng học tủ hay “hên xui” trong các kì thi, vừa đảm bảo sĩ số tham gia học tập của sinh viên.

Thứ ba, thay hình thức thi cuối học kì bằng cách làm cho sinh viên viết các bài luận chuyên sâu về một vấn đề nào đó của học phần; nghiên cứu các tài liệu, tác phẩm, liên hệ thực tế…để có nguồn tư liệu cho bài viết. Giáo viên dựa vào đó đánh giá năng lực sinh viên.

Thứ tư, thường xuyên tổ chức các buổi báo cáo chính trị (hàng tuần hay 2 tuần) cho sinh viên nghe và trao đổi. Vì một phần không nhỏ sinh viên có ít hoặc không có thời gian theo dõi tình hình thời sự (chính trị, kinh tế, xã hội, giáo dục…) nên không có sự hiểu biết rõ ràng, chưa có thái độ đúng đắn. Những buổi báo cáo chính trị của các giáo viên vừa điểm qua những tình hình chính của tuần qua, vừa phân tích sâu từng diễn biến, từng động thái để sinh viên hiểu rõ. Đây là cách tuyên truyền rất có hiệu quả những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

Thứ năm, đa dạng hóa các hoạt động tuyên truyền ý thức và truyền thống cách mạng (Thi hát quốc ca, thi hát ca khúc truyền thống cách mạng, thi viết bài cảm nhận ca khúc CM…).

 Bài viết này không nghiêng về mặt nghiên cứu khoa học mà phần nhiều là những hiểu biết, cảm nhận chủ quan của người viết trong quá trình học tập. Nếu có điều gì chưa phù hợp, chúng tôi rất mong nhận được phản hồi.

 Minh Nguyệt - DH4C2 

1612

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.