Ở kỳ 2 này, tác giả giới thiệu về số đơn vị cần thiết bố trí đối với thí nghiệm so sánh 2 giá trị trung bình, thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên và thí nghiệm khối hoàn toàn ngẫu nhiên.

3. ĐỐI VỚI THÍ NGHIỆM SO SÁNH 2 GIÁ TRỊ TRUNG BÌNH

Đinh Văn Tuyến và ctv. (2008) so sánh khả năng tăng trọng và tiêu tốn thức ăn trên hai nhóm bê lai đã thực hiện bố trí phân lô so sánh như Bảng 3. Đây là thí nghiệm một chiều tác động thức ăn lên sự phát triển của giống nên số n = 5 cho mỗi lô thí nghiệm là hợp lý. Kết quả bố trí thí nghiệm được thể hiện rõ qua Bảng 3 bên dưới

Bảng 3: Bố trí thí nghiệm phân lô so sánh theo dõi tăng trọng

Chỉ tiêu

Lô I (Bê lai Sind)

Lô II (Bê Brahman thuần)

Số lượng gia súc (con)

05

05

Thời gian nuôi chuẩn bị (ngày)

15

15

Thời gian nuôi thí nghiệm (ngày)

84

84

Phương thức nuôi dưỡng

Cá thể, cho ăn tự do

Cá thể, cho ăn tự do

 

Nguồn: Đinh Văn Tuyến và ctv. (2008),

Trường hợp phân lô so sánh trên bò cái sinh sản thì không phù hợp với n = 5, ngoài chỉ tiêu theo dõi trên bò cái sinh sản thì phải so sánh được khả năng tăng trọng bê lai F1 thể hiện qua Bảng 4. Đối với việc đánh giá năng suất sinh sản con lai F1 giữa 2 giống bò thịt từ bò cái địa phương thì số lượng bò cái không thể dừng lại với n =10. Nếu chỉ sử dụng 10 bò cái cho mỗi lô thí nghiệm thì tỉ lệ bê sinh ra không thể là 10, bởi vỉ tỉ lệ thụ thai trên bò khoảng 50-60%, hệ luỵ là số n cần đánh giá thật sự là rất ít. Trong trường hợp này nên sử dụng số bò cái trong mỗi lô thí nghiệm với n >10 và tốt nhất phải từ 15 bò cái trên 1 lô thí nghiệm. Thí nghiệm đã chọn n = 20 cho mỗi lô thí nghiệm nhưng tỉ lệ bê cho mỗi lô là 9 và 12. Cần phải có một số mẫu lớn trong nghiên cứu này vì khả năng phát triển con giống trong mọt vùng sinh thái quyết định hướng phát triển trong tương lai. Do đó phải có dung lượng mẫu đủ lớn để đến một kết luận chính xác.

Sơ đồ 1: Bố trí thí nghiệm phân lô so sánh trên bò cái

Lặp lại

♂Red Sind × ♀ bò Vàng

♂Brahman × ♀ bò Vàng

1

♀1

♀1

2

♀2

♀2

20

♀20

♀20

 

Nguồn: Nguyễn Bá Trung và Nguyễn Bình Trường (2014)

Mục tiêu so sánh giữa 2 giá trị trung bình khác biệt có ý nghĩa thống kê hay không. Thông thường dạng bố trí thí nghiệm này phải chú ý đối tượng thí nghiệm theo dõi khả năng sinh sản hay tăng trưởng được thể hiện theo sơ đồ bên dưới

Trong trường hợp chỉ so sánh khả năng tăng trọng cùng một nhóm đối tượng là bò ảnh hưởng bởi 2 khẩu phần ăn thì số lượng đơn vị thí nghiệm cho mỗi lô nên dừng lại với n ≥ 5 và cho sinh sản thì n ≥ 15.

4. ĐỐI VỚI THÍ NGHIỆM HOÀN TOÀN NGẪU NHIÊN

Sơ đồ 2: Mô hình bố trí thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên

Lặp Lại

Nghiệm thức

0%

20%

30%

1

1

2

3

2

4

5

6

3

7

8

9

4

10

11

12

 

Sơ đồ 2 được Phạm Thế Huệ và ctv. (2010) thực hiện thí nghiệm thiết kế theo mô hình hoàn toàn ngẫu nhiên với 3 nghiệm thức là 3 mức bổ sung ngọn lá sắn ủ chua ở 0%; 20% và 30% theo vật chất khô của khẩu phần. Động vật thí nghiệm là 12 bò đực Lai Sind 20 tháng tuổi, khối lượng 186-194kg. Vậy một nghiệm thức có 4 con bò tương ứng với 4 lần lặp lại cho một nghiệm thức, chúng tôi thể hiện qua sơ đồ 2

Thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên là thí nghiệm trên các đơn vị thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên vào các nghiệm thức. Số đơn vị thí nghiệm phải đồng đều nhau và có cùng một điều kiện sống. Mục tiêu của mô hình này là so sánh sự khác nhau giữa các nghiệm thức. Mô hình thí nghiệm này chỉ so sánh sự tương tác giữa các nghiệm thức trên các chỉ tiêu theo dõi, không đánh giá được sự tương tác giữa các đơn vị thí nghiệm trong cùng một nghiệm thức. Từ đó làm cho giá trị sai số sẽ lớn, vì tất cả các nguồn biến động đực tính vào sai số. Khắc phục hiện tượng này được thực hiện trên mô hình khối hoàn toàn ngẫu nhiên

5. ĐỐI VỚI THÍ NGHIỆM KHỐI HOÀN TOÀN NGẪU NHIÊN

Sơ đồ 3: Mô hình khối hoàn toàn ngẫu nhiên

Khối

Nghiệm thức

F100:C0

F73:C27

F53:C47

F37:C63

F28:C72

1

1

2

3

4

5

2

6

7

8

9

10

3

11

12

13

14

15

4

16

17

18

19

20

 

Ghi chú: F100:C0, F73:C27, F53:C47, F37:C63, F28:C72: lần lượt là khẩu phần có tỉ lệ thức ăn thô và thức ăn tinhkhác nhau là 100%:0 (F100 : C0), 73%:27% (F73 : C27), 53%:47% (F53 : C47),37%:63% (F37 : C63) và28%:72% (F28 : C72) (tính trên vật chất khô)

Sơ đồ 3 do Đậu Văn Hải và Nguyễn Thanh Vân (2016)  thực hiện khi sử dụng 20 bò lai Brahman có khối lượng trung bình 227±13 kg, bố trí theo mô hình khối hoàn toàn ngẫu nhiên với 5 nghiệm thức tương ứng với 5 tỉ lệ thức ăn thô:tinh trong khẩu phần và 4 lần lặp lại cho một khẩu phần tương ứng với 4 bò lai Brahman. Vậy số đơn vị thí nghiệm cho một nghiệm thức là 4 con bò được nuôi theo từng cá thể, thể qua qua sơ đồ 2

Mục tiêu của mô hình khối hoàn toàn ngẫu nhiên là đánh giá sự khác nhau giữa các nghiệm thức nhưng có sự tác động của yếu tố khối. Một khối phải thoã điều kiện có đủ các nghiệm thức của thí nghiệm và giá trị chọn lựa ban đầu của một khối phải đạt mức gần bằng tuyệt đối, có nghĩa là sự biến động giữa các đơn vị thí nghiệm càng ít, như thế thì giảm được sai số của thí nghiệm. Nguồn biến động trong thí nghiệm được chọn làm cơ sở để phân chia khối trong thí nghiệm, các đơn vị thí nghiệm trong một khối phải được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên.

 

Bài liên quan: Thí nghiệm điều tra khảo sát và thí nghiệm so sánh 2 giá trị trung bình

Nguyễn Bình Trường - Khoa NN&TNTN

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.