Ở kỳ cuối này, mời bạn đọc cùng tìm hiểu về số đơn vị cần thiết bố trí đối với thí nghiệm ô vuông Latin, thí nghiệm ô vuông Latin kép, thí nghiệm thừa số hai nhân tố; cách so sánh sự khác nhau về số lần lặp lại trong 1 nghiệm thức; phương pháp xử lý và trình bày số liệu.

6. ĐỐI VỚI THÍ NGHIỆM Ô VUÔNG LATIN

Sơ đồ 4: Mô hình hình vuông Latin

Giai đoạn

Khẩu phần

CP140

CP170

CP200

CP230

1

1

2

3

4

2

2

3

4

1

3

3

4

1

2

4

4

1

2

3

 

Sơ đồ 4 được Nguyễn Văn Thu và Nguyễn Thị Kim Đông (2015) thực hiện thí nghiệm hình vuông Latin với 4 nghiệm thức CP140, CP170, CP200 và CP230 tương ứng với 4 khẩu phần có mức 140, 170, 200 và 230 g CP/100 kg thể trọng. Thực hiện qua 4 giai đoạn trên 4 bò đực Lai Sind khoảng 2,5 năm tuổi. Mỗi giai đoạn gồm 14 ngày: 7 ngày đầu cho bò tập ăn với khẩu phần thí nghiệm và 7 ngày sau lấy mẫu và phân tích các chỉ tiêu. Vậy ở đây có thể xem một nghiệm thức có 4 đơn vị thí nghiệm. Trong thí nghiệm hình vuông Latin số đơn vị thí nghiệm ảnh hưởng bởi số động vât tham gia thí nghiệm.

Mục tiêu so sánh sự khác nhau giữa các nghiệm thức nhưng bị hạn chế về số lượng động vật thí nghiệm. Mô hình thường sử dụng phổ biến trên đối tượng bò, trâu và dê. Cách thực hiện thí nghiệm chia ra các giai đoạn tương ứng với số khẩu phần ăn và số động vật thí nghiệm. Một giai đoạn thí nghiệm có thể kéo dài từ 14 đến 21 ngày tuỳ vào điều kiện thực tế. Mục tiêu thí nghiệm nhằm kiểm soát sự biến động 2 chiều của môi trường thí nghiệm. 

7. ĐỐI VỚI THÍ NGHIỆM Ô VUÔNG LATIN KÉP

Sơ đồ 5: Mô hình hình vuông Latin kép

Giai

đoạn

Đực

Cái

A

B

C

D

A

B

C

D

1

1

2

3

4

5

6

7

8

2

2

3

4

1

6

7

8

5

3

3

4

1

2

7

8

5

6

4

4

1

2

3

8

5

6

7

 

Thí nghiệm hình vuông Latin kép thật sự là hình vuông Latin. Hình vuông Latin kép được hiểu là một dạng của mô hình thừa số 2 nhân tố trong điều kiện không đủ động vật thí nghiệm. Latin kép có nghĩa là hai hình vuông Latin được thực hiện song song, có số khẩu phần là như nhau và cùng loài động vật. Thí nghiệm này có 2 nhân tố nhằm đánh giá sự tương tác giữa 2 nhân tố khác biệt có ý nghĩa thống kê hay không

Một giai đoạn trong thí nghiệm hình vuông Latin, thực hiện trong 14 ngày hoặc 21 ngày tuỳ vào điều kiện tực tế thí nghiệm. Điều này ảnh hưởng từ ước lượng khẩu phằn ăn mới tính từ lúc thức ăn đi vào từ miện và ra khỏi hậu môn, muốn giải quyết vấn đề này chỉ nên dựa vào sinh lý từng đối tượng thí nghiệm. Một giai đoạn vẫn có thể thực hiện trong 14 ngày với 10 ngày thích nghi và 4 ngày lấy mẫu tiêu hoá; có thể tính lượng thức ăn tiêu thụ từ ngày thứ 8, lấy mẫu phân từ ngày thứ 10 và dự phòng 1 ngày cho các sai sót trong quá trình thực hiện.

8. ĐỐI VỚI THÍ NGHIỆM THỪA SỐ HAI NHÂN TỐ

Sơ đồ 6: Mô hình hình thừa số 2 nhân tố

Lặp Lại

18-21 tháng

24-27 tháng

1,5

2,5

3,5

1,5

2,5

3,5

1

1

2

3

4

5

6

2

7

8

9

10

11

12

3

13

14

15

16

17

18

4

19

20

21

22

23

24

5

25

26

27

28

29

30

 

Sơ đồ 6 của Nguyễn Xuân Trạch và Trần Văn Nhạc (2008) thực hiện thí nghiệm nuôi dưỡng trên bò thịt trong 3 tháng. Bố trí thí nghiệm có 2 nhân tố: nhân tố 1 là tuổi bò giai đoạn 18-21 và 24-27 tháng; nhân tố 2 là 3 mức bổ sung thức ăn tinh 1,5; 2,5 và 3,5 kg/con với khẩu phần cơ sở gồm cỏ xanh và lá áo bắp ngô cho ăn tự do. Tổng số bò sử dụng là 30 bò đực địa phương và một khẩu phần có 5 con bò là số đơn vị thí nghiệm của một nghiệm thức. Mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của độ tuổi và mức sử dụng thức ăn tinh trong khẩu phần đến tăng trọng và hiệu quả kinh tế vỗ béo bò thịt

Thí nghiệm thừ số 2 nhân tố có thể sử dụng phương pháp bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên và khối hoàn toàn ngẫu nhiên cũng giống như thí nghiệm một nhân tố. Trong phân tích phương sai phải tính thêm các thông số so sánh cho từng nhân tố. Mô hình thí nghiệm có 2 nhân tố,  đánh giá sự khác biệt trên từng nhân tố và tương tác giữa nhân tố 1 và  nhân tố 2 trong một thí nghiệm. Khó khăn của mô hình này là số lượng động vật thí nghiệm khá nhiều.

9. SO SÁNH SỰ KHÁC NHAU VỀ SỐ LẦN LẶP LẠI TRONG 1 NGHIỆM THỨC

Bảng 3: So sánh sự sai khác về giá trị trung bình

Chỉ tiêu

Số đơn vị

P

3

4

5

6

7

M

SD

M

SD

M

SD

M

SD

M

SD

Tỉ Trọng

1,24

0,02

1,25

0,01

1,27

0,04

1,24

0,01

1,24

0,02

0,221

Chất khô - %

10,5

0,41

10,9

0,51

10,9

0,54

11,1

0,76

11,2

0,49

0,462

Đạm thô - %

2,55

0,07

2,79

0,3

2,76

0,35

2,84

0,34

2,78

0,37

0,803

Mỡ sữa - %

3,23

0,32

3,4

0,25

3,41

0,46

3,76

0,51

3,75

0,36

0,218

Lactose - %

3,91

0,15

3,88

0,40

3,96

0,54

3,72

0,50

3,86

0,54

0,945

Sản Lượng/ngày - kg

9,17

0,72

8,37

0,77

8,48

1,79

7,04

1,04

8,06

2,82

0,529

Tháng cho sữa

3,78

0,35

3,9

0,49

4,27

0,61

4,83

0,40

4,66

0,76

0,051

Khối lượng – kg

435

20,1

461

53,5

450

49,3

483

84,5

490

39,2

0,56

 

Sử dụng dữ liệu có được trên 25 con bò sữa HF, chúng tôi phân ngẫu nhiên thành 5 nhóm tương ứng với số lần lặp lại là 3, 4, 5,6 và 7 để phân tích cùng một chỉ tiêu theo dõi. Từ đó có suy luận về số lần lặp lại cho một nghiệm thức trong thí nghiệm với số mẩu phù hợp. Qua kết quả Bảng 3 thể hiện, các chỉ tiêu theo dõi giữa 5 nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê với P>0,05. Giá trị trung bình của số lần lặp lại là 3 có xu hướng nhỏ hơn số lần lặp lại nhiều hơn 3 đơn vị. Số lần lặp lại là 4-5 không có biến động nhiều so với số lần lặp lại nhiều hơn 5: tỉ lệ chất khô là 10,9% cho số lần lặp lại là 4-5, đạm thô là 2,79% và 2,76%... Cần chú ý tháng cho sữa trên bò sữa là yếu tố có giá trị biến động lớn theo năng suất sữa, vì chom ngẫu nhiên để phân tích nên tháng cho sữa có P = 0,051; khi thực hiện thí nghiệm đánh giá năng suất sữa cần phải chú ý chỉ tiêu tháng cho sữa giữa các nghiệm thức phải như nhau hoặc khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Trên bò thịt đánh giá tăng trọng trong thí nghiệm nuôi dưỡng phải thoã điều kiện về sự đồng nhất của độ tuổi và khối lượng bắt đầu thí nghiệm. SD trên số lần lặp lại có sự biến động trên chỉ tiêu đạm thô là 0,07% với 3 lần lặp lại nhưng ở 4 đến 7 lần lặp lại trong khoảng 0,30-0,37%; tương tự các chỉ tiêu chất khô và đường sữa cũng gần giống như chỉ tiêu đạm thô.

Qua kết quả phân tích từ Bảng 3, nhận thấy số lần lặp lại từ 4 đến 5 đơn vị thí nghiệm cho một nghiệm thức là vừa đủ. Chúng ta có thể thiết kế thí nghiệm với 4 lần lặp lại thì hợp lý hơn trong các bố trí thí nghiệm, vì trong một nghiệm thức có thể sử dụng cân đối cả 2 phái tính sẽ cân đối hơn so với số lần lặc lại là 5. Lưu ý rằng, trong bài viết này chúng tôi muốn thảo luận ở mỗi đơn vị thí nghiệm chỉ là một chứ không phải một cặp động vật thí nghiệm.

10. PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ VÀ TRÌNH BÀY SỐ LIỆU

10.1 Phương pháp xử lý số liệu

Có 2 dạng xử lý số liệu trong các mô hình thí nghiệm là sử dụng Excel trong Microsoft và phần mềm thống kê Minitab.

Thí nghiệm khảo sát có thể sử dụng lệnh Stat\Display Descriptive Statistics\Statistics, chọn Statistics sẽ xuất hiện một bảng hội thoại Display Descriptive Statistics – Statistics. Chỉ cần chọn các thông số: N (số mẫu), Mean (trung bình), Standard deviation (SD). Phương pháp này giúp xử lý nhanh các số liệu nhưng bị hạn chế khi có một dữ liệu sai hay bổ sung thêm giá trị của một n thì phải thực hiện lại lệnh. Khắc phục yếu tố này nên sử dụng phần mềm Excell để tính các giá trị N:M:SD bởi các công thức Counta(A2:A18):Average(A2:A18):Stdev(A2:A18) thì có thể khắc phục hạn chế đó nhưng phải chú ý vùng dữ liệu của 3 lệnh phải giống nhau.

So sánh hai trung bình thực hiện theo lệnh: Stat\Basic\2-Sample t sẽ xuất hiện một bảng hội thoại, chọn mục Samples in different colums, sau đó chọn First và Second tương ứng với hai giá trị cần so sánh. Kết quả có được phải thực hiện trên từng chỉ tiêu theo dõi.

Mô hình hoàn toàn ngẫu nhiên có thể sử dụng One Way để phân tích nếu thí nghiệm này chỉ có tác dụng một chiều. Stat\Anova\One way, chỉ tiêu theo dõi được chọn trong mục Response và nghiệm thức chọn vào mục Factor. Hạn chế của phương pháp này chỉ xử lý trên từng chỉ tiêu theo dõi và tìm sai số giữa các nghiệm thức phải sử dụng SD trong kết quả phân tích chia lại cho số n. Lệnh Stat\Anova\General Linear Model (GLM) dành cho tất cả các mô hình hoàn toàn, khối, hình vuông Latin và kép hay thứa số hai nhân tố. Tất cả các mục trong phần phân tích đều giống nhau đến bảng hội thoại General Linear Model. Responses: là chỉ tiêu theo dõi, có thể chọn tất cả các chỉ tiêu theo dõi của thí nghiệm. Model là mô hình xử lý được áp dụng, nhưng lưu ý một điều sau khi xây dựng lệnh tại Model, chọn mục Comparisions… sẽ xuất hiện mục Terms: sẽ ghi lại lệnh giống như ở mục Model và chọn OK. Trở về bảng hội thoại General Linear Model, tiếp tục chọn lớp Results… có một bảng hội thoại xuất hiện, tại đây cần lưu ý 2 mục: check vào ô Analysis of variance table, phía bên dước có dòng chữ Display least squares means corresponding to the terms: thực hiện lệnh mô hình như ở Model và Ok là hoàn thành.

Vấn đề cần lưu ý khi chọn mô hình chung GLM là tại mục Model, Terms và Display least squares means corresponding to the terms phải cùng một câu lệnh thì mới thực hiện tốt được. Sự khác nhau giữa các mô hình thí nghiệm được phân tích dựa vào việc xây dựng lệnh cho phù hợp từng mô hình. Lưu ý rằng, phần mềm này được thiết kế sẳn confidence level là 95%.       

10.2 Trình bày số liệu

Có thể trình bày các dạng khác nhau theo mục tiêu nghiên cứu nhưng cần phải lưu ý điều này. Tỉ lệ phần trăm hay tỉ lệ tần suất trong các thí nghiệm khảo sát phải thể hiện rõ, ví dụ: tỉ lệ giống bò Brahman trong vùng khảo sát chiếm tỉ lệ cao nhất là 45% thì chúng ta phải ghi thêm chú thích phía sau là 40,0% (400/1.000 con). Nếu chỉ dựa vào số phần trăm sẽ làm cho kết quả nghiên cứu có nhiều sai lầm lớn như 40,0% (4/10 con). Đây là điều quan trọng.

Thể hiện các kết quả trên biểu bảng phải thoã sự thích thú và hài lòng của người đọc:

Số hàng đơn vị có 2 số lẽ:                     1,23

Số hàng chục có một số lẽ:                    12,3

Số hàng trăm không có số lẻ:                123

Giá trị thống kê P, thông thường người viết copy từ kết quả Minitab qua, nên nhớ rằng các giới hạn thống kê là P<0,05 hay P>0,05. Vậy giá trị P nên trình bày ở dạng 3 số lẽ 0,052 là tốt nhất, vì chúng ta có thể thấy chỉ tiêu nào đó khác biệt không có ý nghĩa thống kê với P=0,052 nhưng với mức confidence level là 99% thì khác biệt có ý nghĩa thống kê hay không. Tương tự như thế, giá trị sai số SE cũng nên sử dụng 3 số lẽ thì phù hợp.

Bảng 4: Tăng khối lượng và tỷ lệ tiêu hóa trên bò thí nghiệm

Chỉ tiêu

NT 1

NT 2

NT 3

P

SEM

Khối lượng đầu kỳ (kg/con)

214

212

210

0,189

1,424

Khối lượng cuối kỳ (kg/con)

276a

247b

243b

0,009

6,285

Tăng khối lượng (kg/con/ngày)

0,74a

0,42b

0,39b

0,011

0,069

Hệ số chuyển hóa thức ăn

5,44b

9,02ab

9,57a

0,035

1,007

Tỷ lệ tiêu hóa (%)

DM

77,7a

64,4b

57,8c

0,000

0,174

CP

83,2a

69,1b

57,3c

0,000

0,431

CF

64,0a

56,8ab

56,1b

0,029

1,895

OM

79,7a

67,3b

62,0c

0,000

0,284

 

Nguồn: Nguyễn Bá Trung (2014), KL: khối lượng, NT 1: cây bắp rau và cỏ VA06, NT 2: cây bắp rau và cỏ VA06 + 0,6kg TAHH, cây bắp rau và cỏ VA06 + 3kgTAHH. Các chử cái a,b,c khác nhau trên cùng một hàng là khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Trên từng mô hình thí nghiệm theo mục tiêu cụ thể mà tác giả có thể chọn cho mình một mô hình thí nghiệm phù hợp. Mỗi một mô hình cần có số n tốt nhất trên từng chỉ tiêu nghiên cứu. Đối tượng thí nghiệm là gia súc nhai lại có giá trị kinh tế khá cao, việc huy động một lượng lớn gia súc trong cùng độ tuổi là điều khó khăn để hoàn thành thí nghiệm. Do đó, tuỳ vào kinh phí có được mà các tác giả chọn mô hình thí nghiệm hợp lý là điều cần thiết. Trong phạm vi bài viết này, theo ý kiến cá nhân tôi xin đi đến kết luận vấn đề.   

4. LỜI KẾT

Số mẫu cho một chỉ tiêu khảo sát phải bằng hoặc lớn hơn 30 đơn vị và số đơn vị thí nghiệm so sánh phải đạt khoảng 5-15 động vật thí nghiệm.

Cần phải có 4 đơn vị thí nghiệm trong một nghiệm thức là tốt nhất

Số lượng đơn vị thí nghiệm bị ảnh hưởng bởi mục tiêu nghiên cứu, động vật thí nghiệm và kinh phí thực hiện một thí nghiệm. Các chủ nhiệm đề tài nên dựa vào mục tiêu nghiên cứu mà chọ số lượng cho phù hợp điều kiện cụ thể.

 

Bài liên quan: Thí nghiệm điều tra khảo sát và thí nghiệm so sánh 2 giá trị trung bình

                      Thí nghiệm hoàn toàn ngẫu nhiên và thí nghiệm khối hoàn toàn ngẫu nhiên

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Mai Văn Sánh, Trịnh Văn Trung, Nguyễn Công Định, và  Nguyễn Kiêm Chiến (2008), Hiện trạng đàn trâu ở một số địa phương đại diện cho các vùng trâu to trong cả nước, Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi (Viện Chăn nuôi), Số 15, Tháng 12/2008, Trang 1–8.

Đinh Văn Tuyến, Nguyễn Thành Nam, Phạm Hùng Cường và Nguyễn Thiện Trường Giang (2008), So sánh khả năng tăng trọng và cho thịt khi vỗ béo giữa bê thuần Brahman và bê lai Sind nuôi tại Tuyên Quang. Tạp chí KHCN Chăn Nuôi số 14, tháng 10-2008, trang 1-8.

Nguyễn Xuân Trạch và Trần Văn Nhạc (2008), Ảnh hưởng của độ tuổi và mức thức ăn tinh đến tăng trọng và hiệu quả kinh tế vỗ béo bò địa phương tại huyện Krông Pa tỉnh Gia Lai.  Tạp chí Khoa học và Phát triển 2008: Tập VI, Số 4, trang 343-347

Phạm Thế Huệ, Trần Quang Hạnh, Trần Quang Hân (2010),Ảnh hưởng của các mức ngọn lá sắn ủ chua trong khẩu phần đến lượng thức ăn thu nhận, khả năng sinh trưởng của bò lai Sind nuôi vỗ béo tại tỉnh Đăk Lăk. Tạp chí Khoa học và Phát triển 2012. Tập 10, số 6, trang 902-906

Nguyễn Bình Trường (2015), Một số đặc điểm về sinh trưởng, sinh sản của trâu tỉnh An Giang, Tạp chí KHKT Chăn Nuôi, 6: 80-86.

Nguyễn Bá Trung và Nguyễn Bình Trường (2014), Cải thiện giống bò thịt tỉnh An Giang ở phương thức chăn nuôi nông hộ bằng 2 công thức lai giữa bò địa phương với giống Red Brahman và Red Sindhi, Tạp chí KHKT Chăn Nuôi, 4: 19-25.

Nguyễn Bá Trung (2014), Tiêu hóa và tăng khối lượng của bò địa phương vỗ béo bằng cỏ VA06 và thân cây bắp rau có bổ sung thức ăn công nghiệp tại nông hộ huyện Chợ Mới – An Giang, Tạp chí KHKT Chăn Nuôi, 6: 43-49.

Đậu Văn Hải Và Nguyễn Thanh Vân, (2016), Ảnh hưởng của tỉ lệ thức ăn thô : tinh trong khẩu phần đến khả năng ăn vào, tỷ lệ tiêu hóa, tăng khối lượng và lượng khí mê- tan thải ra trên bò lai brahman, tạp chí khoa học công nghệ chăn nuôi – số 64, tháng 6/2016, trang 64-70

Nguyễn Văn Thu và Nguyễn Thị Kim Đông, (2015),Ảnh hưởng của các mức độ đạm thô trong khẩu phần bằng bổ sung bánh đa dưỡng chất đến sự tiêu thụ thức ăn,các thông số dạ cỏ và sự tích lũy đạm của bò lai Sind. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 37 (2015)(1): 11-17

Nguyễn Bình Trường - Khoa NN&TNTN

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.