Đại tướng Võ Nguyên Giáp – nhà quân sự lỗi lạc, vị Tổng tư lệnh quân đội tài năng nhất của Việt Nam thời cận và hiện đại đã không chỉ trở thành một biểu tượng của nghệ thuật và sức mạnh quân sự Việt Nam mà còn là một biểu tượng quân sự của thế giới; tài năng và nhân cách con người của Đại tướng được nhiều thế hệ người Việt Nam kính trọng và dành sự ngưỡng mộ, trong đó không thể không kể đến những đồng đội, những người bạn chiến đấu của Đại tướng.

          * Trước hết, đối với nhân dân, hình ảnh Đại tướng luôn là một biểu tượng bất diệt trong tim của mỗi người Việt Nam, đó là một biểu tượng sức mạnh, luôn tự tin vào chính mình, là một biểu tượng chiến thắng của người Việt Nam thời kỳ hiện đại. Có thế nói, trên trang sử mới từ khi Đảng ra đời, sau chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là người luôn được mọi tầng lớp nhân dân tôn kính, là niềm tự hào về một tướng lĩnh anh hùng của Việt Nam đối với thế giới.

Cảm phục tài năng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, năm 2010, cán bộ nhân dân làng Thượng, xã Bảo Lý, huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên đã tặng Đại tướng bốn câu thơ bày tỏ sự kính mến và tự hào:

“Đại tướng anh hùng dễ mấy ai

Đức độ, anh, uy, trí dũng, tài

Thắng hai đế quốc bách niên thọ

Hoàn cầu có một, không có hai”

Kỷ niệm 13 năm ngày Giải phóng miền Nam (30/4/1975 – 30/4/1988), Đại tướng vào thăm thành phố mang tên Bác, nhà giáo lão thành Phan Thúy thuộc đơn vị Trung đoàn Bắc - Bắc trước đây (còn gọi là trung đoàn 36, được thành lập tháng 8/1946 thuộc sư đoàn 308) đã chúc mừng Đại tướng bằng bài thơ tứ tuyệt:

"Trọn đời đã chiến đấu hy sinh

Yêu nước hơn yêu cả chính mình

Đức độ, anh minh, tình sáng đẹp

Hoàng hôn cũng tựa buổi bình minh"

Trong hồi ký của mình, Đại tá - Nhà thơ Trần Đăng Khoa viết về khu rừng Mường Phăng (Điện Biên) nơi đặt Sở chỉ huy chiến dịch Trần Đình năm nào (mật danh của chiến dịch Điện Biên Phủ), trong đó đã miêu tả về tình cảm của nhân dân nơi đây dành cho Đại tướng: "Rừng núi nhiều nơi đã trơ trụi, nhưng Mường Phăng thì vẫn um tùm rậm rạp như rừng nguyên sinh... Ở đây, người dân còn đói cơm, thiếu mặc, nhưng họ vẫn nâng niu gìn giữ khu rừng. Họ tự đặt tên cho khu rừng là Rừng Đại tướng. Đấy là ngôi đền thiêng, ngôi đền xanh thiên nhiên mà người dân đã tự lập để thờ ông. Đối với vị tướng trận, đó là hạnh phúc lớn. Một hạnh phúc mà không phải ai cũng có được". [1]

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong lần trở về thăm Mường Phăng năm 2004 (Nguồn:bienphongvietnam.vn)

          * Là học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ lúc được Bác giao phụ trách thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam), Đại tướng đã từng bước huấn luyện và phát triển đội quân vài chục người với trang bị vũ khí thô sơ thành một lực lượng quân đội chính quy của một đất nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và niềm tin nơi Bác giao phó. Nhân kỷ niệm 5 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22/12/1944 – 22/12/1949), Bác đã gửi chúc mừng các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích. Trong thư, Người nêu rõ: “Quân đội ta quen gọi Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp là Anh Cả. Cách gọi thân ái ấy rất đúng với tinh thần và lịch sử của Quân đội ta…” [2]. Chính lời ngợi khen của Bác đã cho thấy sự tin tưởng của Bác trong việc giao cho Đại tướng phụ trách một đội quân của một đất nước. Trong ngày lễ phong quân hàm cho vị Đại tướng đầu tiên của quân đội vào 13 giờ, chiều 28 tháng 5 năm 1948, Bác đã xúc động và trao gửi niềm tin lớn lao cho Đại tướng Võ Nguyên Giáp: "Các cụ ta qua bao thế hệ chiến đấu cho độc lập mà không thành, nhắm mắt mà chưa thấy được dân tộc tự do. Chúng ta may mắn hơn nhưng còn phải bao nhiêu hy sinh cố gắng. Hôm nay, việc phong tướng cho chú Giáp là kết quả của bao nhiêu hy sinh, chiến đấu của đồng bào, đồng chí, chúng ta phải quyết giành được độc lập, tự do để thỏa lòng những người đã mất" [3].

Đại tướng Võ Nguyên Giáp trình bày phương án chiến lược chiến dịch Điện Biên Phủ trước Bác Hồ (Nguồn:bqllang.gov.vn)

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng được Bác giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy chiến dịch với vai trò tướng quân tại ngoại, toàn quyền quyết định mọi việc. Điều đó cho thấy niềm tin mãnh liệt và sự kỳ vọng, tin tưởng tuyệt đối của Bác đối với Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong trận đánh lịch sử này. Ngày 1/1/1954, Bác Hồ dự họp Bộ Chính trị, chỉ định cơ quan lãnh đạo, chỉ huy chiến dịch, triển khai kế hoạch điều động lực lượng lên Tây Bắc. Khi giao nhiệm vụ cho Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Người nói: “Tổng Tư lệnh ra mặt trận, Tướng quân tại ngoại! Trao cho chú toàn quyền quyết định. Có vấn đề gì khó khăn, bàn thống nhất trong Đảng ủy, thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định rồi báo cáo sau” [4]. Kết thúc buổi họp, Bác dặn dò Đại tướng: “Trận này quan trọng, phải đánh cho thắng! Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh” [5].

          * Đối với đồng đội và các nhà nghiên cứu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một chỉ huy tài giỏi với nhãn quan nhận định chiến lược tài tình, nhiều lần gây bất ngờ cho đồng đội trong những quyết định táo bạo của mình, nhưng trên hết Đại tướng là người có tâm lòng nhân hậu, luôn thương yêu và quan tâm đến đồng đội và các chiến sĩ của mình.

Thượng tướng Trần Văn Trà (nguyên Tư lệnh các lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam), người bạn chiến đấu thân thiết của Đại tướng đã nói về người bạn thân của mình trong hồi ký: “Anh Văn [Đại tướng Võ Nguyên Giáp]được hưởng niềm yêu mến gần như tuyệt đối của toàn quân… Anh là Tư lệnh của các Tư lệnh, Chính ủy của các Chính ủy, là Tổng Tư lệnh biết đau với từng vết thương của người lính, biết tiếc từng giọt máu của mỗi chiến binh. Anh Văn trở thành cây đa rợp bóng mát tình yêu thương đồng đội" [6]. Còn trong sách Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp của Đại tá Trần Trọng Trung đã dẫn lời cố Thượng tướng Trần Văn Trà: “Nhiều ý kiến có tầm nhìn xa trông rộng, sắc sảo và độc đáo của Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ về chiến lược quân sự và về chiến thuật quân sự cần được giới sử học nghiên cứu thật công khai, thật công phu, thật công bằng và thật công tâm. Về phần mình, suốt hai cuộc kháng chiến, tôi chưa hề thấy Bí thư Quân ủy Trung ương kiêm Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp mắc một sai lầm nào về chiến lược và chiến thuật quân sự; tôi chỉ thấy anh Văn  đi những nước cờ bậc thầy vây hãm và tiến công quân địch” [7].

Có mặt ở Điện Biên Phủ trong những tháng ngày gian khổ Đông Xuân 1953 - 1954, nhà văn Nguyễn Đình Thi từng nhận xét: “Một vị Tổng tư lệnh đồng thời là người chỉ huy chiến dịch mà viết thư gửi chiến sĩ với những lời thân mật như anh em, quả là điều hiếm thấy trong chiến tranh các nước!” [8].

Đối với đồng đội trong chiến đấu, Đại tướng luôn là người anh cả, luôn quan tâm đến đồng đội và từng chiến sĩ trên chiến trường. Ông luôn được nhận sự kính mến, ngưỡng mộ và cảm phục nơi họ. Xúc động trước tình cảm của người chỉ huy cao nhất của quân đội đối với các liệt sĩ hy sinh trên đỉnh đèo Phu La Nhích (tọa độ lửa trên đường Trường Sơn), Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên, nguyên Tư lệnh Binh đoàn Trường Sơn - người thông thuộc mọi ngõ ngách và điểm nóng trên tuyến đường huyền thoại này, trong lần đón Đại tướng Võ Nguyên Giáp vào thị sát đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại năm 1973, sau đó đã viết trong hồi ký của mình với những cảm nhận về đức độ và tác phong của Đại tướng:Đại tướng thăm cụm trọng điểm ATP trên đường Quyết Thắng... Những giọt nước mắt dành cho những chiến sĩ vĩnh viễn nằm lại trên trọng điểm này của vị Tổng tư lệnh giữa chiều Trường Sơn thật sự thấm đậm tình người, lắng sâu trong tâm khảm chúng tôi, không thể nào quên được!”[9]. Đối với những chiến sĩ của mình đã hy sinh trong các trận đánh, trong hồi ký của mình, Thượng tướng Trần Văn Trà viết về Đại tướng: "Có trận thắng vang dội, nhưng mất nhiều lính quá, người ta vỗ tay rầm trời, còn Đại tướng thì lặng lẽ khóc ở Sở chỉ huy. Nhiều khi úp mặt xuống phên tre mà khóc. Nước mắt đầm đìa cả cái gối mây. Những điều ấy thì không phải ai cũng biết" [10].

Giáo sư, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, nguyên Tư lệnh mặt trận Tây Nguyên, ông được xem là linh hồn của chiến dịch Tây Nguyên - một trong những vị tướng tài năng nhất của Việt Nam, đã ca ngợi Đại tướng: "Anh Văn là tấm gương sáng về đạo đức và về sinh hoạt của một người đứng đầu toàn quân và của một nhà văn hóa... là con người có bản lĩnh lớn. Bản lĩnh lớn, bởi vì anh đã bình tĩnh và bình thản vượt qua những năm tháng sóng to gió lớn của cuộc chiến tranh nhân dân giải phóng và của chính cuộc đời mình" [11]. Thượng tướng khẳng định: "Tôi biết rõ Tổng Tư lệnh đã nhiều đêm thao thức, nước mắt ướt đầm, vì được tin một chiến dịch nào đó máu chiến sĩ đổ quá nhiều, mà chiến thắng thì chưa tương xứng. Đấy là trái tim anh Văn! Đấy là cách đánh và cách tiến công nhân văn chủ nghĩa của Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp!" [12]. Giáo sư, Thượng tướng Hoàng Minh Thảo, nhấn mạnh: “Võ Nguyên Giáp là bậc thầy về cách đánh. Ông luôn tìm ra cách đánh độc đáo và sáng tạo, vừa bảo đảm thắng lợi cao nhất cho trận đánh, vừa hạn chế đến mức thấp nhất thương vong cho tướng sĩ. Ông là vị thống soái có tài thao lược kiệt xuất…”[13].

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - biểu tượng chiến thắng của nhân dân Việt Nam (Nguồn: nxbtre.com.vn)

Đại tướng Lê Trọng Tấn, vị tướng tài giỏi được xem là người đứng thứ hai sau Đại tướng Võ Nguyên Giáp ở Việt Nam thời kỳ hiện đại, [GS Hoàng Minh Thảo bình chọn 4 vị tướng tài giỏi nhất Việt Nam thời hiện đại gồm Võ Nguyên Giáp, Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái, Nguyễn Hữu An], Đại tướng Võ Nguyên Giáp đánh giá Đại tướng Lê Trọng Tấn là vị tướng "biết dùng quân, luyện quân, nuôi quân, chỉ huy quân" và là một trong những vị tướng tài ba nhất của quân đội nhân dân Việt Nam, được Đại tướng Võ Nguyên Giáp xem là "người chỉ huy kiên cường, lỗi lạc, người bạn chiến đấu chí thiết" [14]. Ông từng là Đại đoàn trưởng Đại đoàn 312 đã đánh thẳng vào trung tâm Sở chỉ huy Mường Thanh, bắt sống tướng De Catries. Trong cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1975, ông lại là Tư lệnh của chiến dịch Huế - Đà Nẵng, Tư lệnh cánh quân phía Đông đánh thẳng vào dinh Độc Lập, buộc tướng Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng. Đại tướng Lê Trọng Tấn có nhiều kỷ niệm đáng nhớ với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Lê Trọng Tấn nhắc lại cuộc họp các tướng lĩnh với Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp bàn về kế hoạch tiến công Đà Nẵng với phương châm của Đại tướng đề ra là "khẩn trương, táo bạo, bất ngờ", "đánh địch theo tình huống chúng rút trong ba ngày". Khi tướng Lê Trọng Tấn trình bày "đánh như vậy không thể chuẩn bị kịp", Đại tướng kiên quyết hạ lệnh: "Tư lệnh mặt trận là anh, nên tôi để anh ra lệnh. Nếu là người khác, thì tôi ra lệnh. Đánh Đà Nẵng theo phương án chuẩn bị ba ngày. Nếu chuẩn bị năm ngày, địch rút mất thì sao?"[15]. Rõ ràng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có nhãn quan chiến lược tài tình cùng nhận định tình hình sắc sảo để có thể đề ra mệnh lệnh một cách quyết đoán, và khi mệnh lệnh được một Đại tướng tài năng khác như Lê Trọng Tấn thực hiện thì khả năng thành công sẽ rất cao. Và kết quả của chiến dịch Huế - Đà Nẵng (21/3 – 29/3/1975) đã trả lời cho sự phối hợp xuất sắc của hai vị tướng tài năng này.

          * Năm 2011, khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đến thăm và chúc mừng Đại tướng tròn 100 tuổi, đồng thời nhắc đến công lao của Đại tướng đối với nhân dân và đất nước Việt Nam. Ở cái tuổi 100, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn còn minh mẫn và luôn nhớ đến những người đồng đội, những chiến sĩ đã hy sinh trong những trận đánh năm xưa giành lại độc lập cho đất nước, Đại tướng vẫn dành sự thương yêu cho những chiến sĩ của mình như ngày nào, luôn đề cao công lao của họ trước bản thân mình – Đại tướng đáp lại lời chúc của Thủ tướng: “Tôi sống ngày nào cũng là vì đất nước ngày đó. Mong Đảng, Chính phủ luôn ghi nhớ công lao của những chiến sĩ cách mạng. Có được đất nước như ngày hôm nay cũng là nhờ xương máu hy sinh của các chiến sĩ Điện Biên năm xưa”[16].

          Trong buổi lễ mừng thọ lần thứ 85 của Đại tướng Võ Nguyên Giáp (1996),  GS Vũ Khiêu đã làm hai câu đối tặng Đại tướng:

“Võ công truyền quốc sử

Văn đức quán nhân tâm”

Hai câu đối đã bao quát cả tài năng và nhân đức của vị Đại tướng Võ Nguyên Giáp - một trong những tướng lĩnh hàng đầu của thế giới. Trong lĩnh vực quân sự, tài năng và tên tuổi của ông đã vươn ra thế giới nhưng đối với nhân dân và các đồng đội, Đại tướng vẫn mãi là vị tướng của nhân dân, hết lòng vì nhân dân, xứng đáng là người học trò xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trích dẫn:

[1],[8],[9],[10],[11],[12],[15] Võ Quốc Hiển, Tướng Văn trong trái tim đồng đội. Đọc từ:

http://hanoimoi.com.vn/Ban-in/Chinh-tri/753361/tuong-van-trong-trai-tim-dong-doi

[2] Hồ Chí Minh toàn tập (2000), Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia, tr.1043

[3] Thông tấn xã Việt Nam, Bác Hồ đã chọn vị tướng tài của dân tộc như thế nào?. Đọc từ:

http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/PrintStory.aspx?distribution=23946&print=true

[4], [5] Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Tổng tập Hồi ký, Hà Nội: Nxb Quân đội Nhân dân, tr.900

[6] Lê Mai, Võ Nguyên Giáp trong mắt Trần Văn Trà. Đọc từ:

http://thptthanhchuong3nghean.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=221:vng&catid=129:thoisu

[7] Tủ sách cổ điển: Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp. Đọc từ:

http://daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=3353

[13] TS Ngô Vương Anh, Võ công truyền quốc sử, văn đức quán nhân tâm. Đọc từ:

http://baothuathienhue.vn/print/-vo-cong-truyen-quoc-su-van-duc-quan-nhan-tam--a30407.html

[14] Khánh Nam, Vị tướng từ chiến thắng Điện Biên đến Dinh Độc Lập. Đọc từ: http://kienthuc.net.vn/kho-tri-thuc/vi-tuong-chien-thang-tu-dien-bien-den-dinh-doc-lap-860650.html

[16] Bích Ngọc, Những câu nói bất hủ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đọc từ:

http://baodatviet.vn/chinh-tri-xa-hoi/chinh-tri-viet-nam/nhung-cau-noi-bat-hu-cua-dai-tuong-vo-nguyen-giap-2356518/#

Tham khảo:

Trần Thái Bình (2014), Võ Nguyên Giáp – Hào khí trăm năm, TPHCM: Nxb Trẻ

Đại tướng Võ Nguyên Giáp (2011), Tổng tập Hồi ký, Hà Nội: Nxb Quân đội Nhân dân

Nhiều tác giả (2013), Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp – Đại tướng của nhân dân của hòa bình, TPHCM: Nxb Tổng hợp TPHCM

Gerald Le Quang (2014), Võ Nguyên Giáp hay là cuộc chiến tranh Nhân dân, Hà Nội: Nxb Thế giới

An Lâm - DH15SU

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.