In bài này 

Thí nghiệm tiêu hoá in vivo được thực hiện qua 3 kiểu ứng dụng trong chăn nuôi với giai đoạn thích nghi và thu mẫu. Ảnh hưởng từ nguồn thức ăn có hàm lượng xơ cao hay thấp sẽ tác động thời gian thu mẫu phân. Trong bài viết này, tác giả đề xuất một giai đoạn thí nghiệm là 14 ngày, thu mẫu thức ăn từ ngày thứ 8 và thu mẫu phân từ ngày thứ 11. Bên cạnh đó thì ví dụ minh hoạ thể hiện rõ hơn ứng dụng vào thực hiện thí nghiệm trên cách xử lý số liệu thô, phân tích dưỡng chất, tính ra từng dưỡng chất tiêu thụ và tỉ lệ tiêu hoá dưỡng chất trước khi phân tích thống kê bằng Minitab.

1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Thí nghiệm đánh giá tỉ lệ tiêu hoá của một loại thức ăn hay một khẩu phần ăn trên trâu, bò, dê, cừu, thỏ... thường được sử dụng một trong ba phương pháp in vitro, in situin vivo. Phương pháp in vitro thực hiện trong điều kiện phòng thí nghiệm, in situ thực hiện trên gia súc được mổ lổ dò dạ cỏ, phương pháp in vivo thực hiện trực tiếp trên gia súc nhưng cần phải đáp ứng nhiều điều kiện khác nhau để đi đến thành công. Một số ý kiến bị nhầm lẫn trong việc đánh giá thành phần dinh dưỡng của thức ăn và lượng chất khô tiêu thụ, trong phân tích dưỡng chất của gia súc ăn cỏ, cần phải đánh giá được giá trị dưỡng chất cả thức ăn cho ăn và thức ăn thừa. Vì lượng thức ăn cho gia súc ăn bị ảnh hưởng bởi tập tính ăn của từng cá thể và điều kiện tiểu khí hậu làm mất nước trong mẫu nên DM thức ăn thừa luôn cao hơn DM thức ăn cho ăn. Để giúp cho việc phân tích chính xác số liệu trên các thí nghiệm, tác giả xin giới thiệu các kiểu thí nghiệm in vivo và phương pháp xử lý số liệu trên gia súc làm cơ sở tham khảo trong chuyên ngành Chăn Nuôi.

2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

2.1 Các kiểu thí nghiệm tiêu hoá in vivo

Các mô hình thí nghiệm phổ biến trong chăn nuôi như khảo sát, phân lô so sánh, hoàn toàn ngẫu nhiên... được giới thiệu trong tạp chí khoa học kỹ thuật Chăn Nuôi số 214 (Nguyễn Bình Trường, 2016). Trên tất cả các mô hình này đều có thể thực hiện một thí nghiệm tiêu hoá in vivo, chỉ có mô hình khảo sát ít được áp dụng. Bởi vì đây là mô hình nghiên cứu đánh giá mẫu để suy diễn cho tổng thể chung. Thí nghiệm tiêu hoá in vivo có ba kiểu ứng dụng.

Kiểu 1: Nghiên cứu tỉ lệ tiêu hoá của một loại thức ăn nhất định như cỏ Voi, VA06... qua các thời gian thu hoạch, dạng này thường được thực hiện nhằm đánh giá tiêu hoá của một loại thức ăn gia súc. Số lượng gia súc tối thiểu là 3 đơn vị thí nghiệm/thực liệu và mỗi giai đoạn phải có 7-21 ngày để điều chỉnh lượng thức ăn và thu mẫu, thu mẫu tổng thể là phương pháp đáng tin cậy nhất nhưng để giảm thời gian và chi phí nên sử dụng chất chỉ thị (Ajmal Khan et al., 2003). Kiểu này cũng có thể ứng dụng trong thí nghiệm đánh giá tác động của giống gia súc: Brahman, Sind, Charolai... hay loài gia súc: bò, trâu, dê... lên sự tiêu hoá của một loại thức ăn.  

Kiểu 2: Đây là dạng thí nghiệm nuôi dưỡng trong thời gian dài như thí nghiệm thay thế cây đậu phộng cho cỏ Voi để đánh giá năng suất sữa của bò (Nguyễn Bình Trường, 2013) hay thí nghiệm vỗ béo bò với các mức độ đạm khác nhau của thức ăn tinh trong khẩu phần (Nguyễn Hữu Văn và ctv, 2012) và kết hợp thực hiện thí nghiệm tiêu hoá in vivo để đánh giá tỉ lệ tiêu hoá các dưỡng chất làm cơ sở đánh giá các khẩu phần thí nghiệm. Điều kiện thí nghiệm là phải đủ động vật thí nghiệm như mô hình phân lô so sánh, hoàn toàn ngẫu nhiên, khối hoàn toàn ngẫu nhiên và thừa số hai nhân tố.

Một thí nghiệm nuôi dưỡng nhằm đánh giá khả năng tiêu tốn thức ăn và tiêu hoá được thực hiện trong 105 ngày, gia súc có 15 ngày thích nghi với khẩu phần mới và 90 ngày thí nghiệm. Dạng thí nghiệm này thì thí nghiệm in vivo có thể thực hiện 7 ngày liên tục từ ngày 29 đến ngày 35 (Nguyễn Văn Tiến và ctv., 2016)

Kiểu 3: Ứng dụng cho mô hình thí nghiệm cần nhiều động vật thí nghiệm nhưng điều kiện thí nghiệm không thể đáp ứng đủ, như mô hình ô vuông Latin và ô vuông Latin kép. Một thí nghiệm in vivo được thực hiện qua 3 giai đoạn: (1) giai đoạn động vật dần thích nghi với chế độ ăn thí nghiệm, (2) sau giai đoạn thích nghi là giai đoạn đảm bảo rằng động vật đã quen với chế độ ăn thí nghiệm và để làm sạch đường tiêu hóa của các khẩu phần trước đây và được duy trì trong chế độ ăn của thí nghiệm, (3) giai đoạn cuối cùng là giai đoạn thu thập lượng thức ăn, thức ăn thừa, phân và nước tiểu được ghi lại. Mỗi một giai đoạn được thực hiện khoảng 7-10 ngày (MC Donal et al., 2010). Trong tất cả các thí nghiệm về tiêu hóa, đặc biệt đối với động vật nhai lại, rất cần đúng giờ và số lượng thức ăn trong mỗi ngày không nên thay đổi

Nghiên cứu ảnh hưởng của mức độ tannin trên cừu thì Alam M. R. et al. (2007) thực hiện đúng như mô tả gồm 3 giai đoạn trong 24 ngày với 10 ngày thích nghi, 7 ngày ăn thí nghiệm và 7 ngày thu mẫu, nhưng Vu C. C. et al. (2011) thực hiện một giai đoạn thí nghiệm trong 30 ngày với 20 ngày thích nghi và 10 ngày thu mẫu. Theo chúng tôi thì giai đoạn 1 và 2 có thể gom chung lại để phát triển thí nghiệm tiêu hoá in vivo qua 2 giai đoạn là thích nghi và lấy mẫu. Để thực hiện điều này thì thời gian thích nghi phải đảm bảo để con vật làm quen môi trường nuôi mới, thải hết thức ăn cũ trong đường tiêu hóa, làm quen với thức ăn thí nghiệm, xác định lượng ăn tối đa và có điều kiện để quan sát trạng thái của con vật. Một số khuyến cáo về thời gian chuẩn bị cụ thể đối với trâu, bò, dê, cừu là 10-15 ngày, ngựa và heo là 8-10 ngày, gia cầm là 6-8 ngày và thỏ là 6-7 ngày (Lê Đức Ngoan và ctv, 2014) nhưng phụ thuộc loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm. 

Một thínghiệm ô vuông Latin với 4 nghiệm thức là 4 khẩu phần ăn của bò ta được thực hiện qua 4 giai đoạn. Mỗi giai đoạn kéo dài 14 ngày với 7 ngày thích nghi và 7 ngày thu mẫu được thực hiện bởi Nguyễn Văn Thu (2010), Özelçam H. et al. (2015)...

Cùng thực hiện thí nghiệm ô vuông Latin trên bò với 4 nghiệm thức nhưng Hồ Quảng Đồ (2014) tiến hành một giai đoạn trong 15 ngày với 11 ngày thích nghi và có 4 ngày lấy mẫu, bên cạnh đó thì Manríquez O. M. et al. (2016) cũng thực hiện một giai đoạn với 14 ngày có 10 ngày thích nghi và 4 ngày thu mẫu

Tiếp tục một thí nghiệm ô vuông Latin đánh giá ảnh hưởng của chế độ ăn kiêng ngô chưa qua chế biến hoặc xông hơi và có hoặc không có bổ sung enzyme đối với tiêu hóa in vivo các chất dinh dưỡng của hạt ngô trong phân bò Holstein. Mỗi giai đoạn của thí nghiệm là 13 ngày, 10 ngày đầu tiên của mỗi giai đoạn là để điều chỉnh chế độ ăn mới và 3 ngày cuối cùng là để lấy mẫu (Lee S. Y. et al., 2002)

Một thí nghiệm in vivo có thể thực hiện trong cùng một giai đoạn đối với dạng 2 hoặc thực hiện đơn lẻ từng giai đoạn đối với dạng 3. Qua các thí nghiệm mô tả ở trên thì người đọc không biết chọn một dạng nào cho phù hợp? Giai đoạn thích nghi được thực hiện 7, 10 hay 11 ngày điều ảnh hưởng từ thực liệu dùng trong thí nghiệm, nếu thức ăn thí nghiệm có tỉ lệ xơ càng cao thì khả năng tiêu hoá càng lâu. Để xác định chính xác thời gian của một loại thức ăn đi từ miệng đến hậu môn thì bổ sung thêm một chất màu khó tiêu như oxit sắt hoặc carmine để nhận dạng trong phân được gọi là chất chỉ thị như đề xuất của Ajmal Khan et al. (2003). Theo MC Donal et al., (2010) phương pháp này chỉ thực hiện trên thú độc vị, đối với động vật nhai lại là không thành công bởi vì bột nhuộm trộn lẫn với những vi sinh vật khác trong dạ cỏ. Thay vào đó, thời gian cho việc di chuyển các loại thức ăn khoảng 24-48 giờ, nghĩa là việc đo lượng phân bắt đầu 1-2 ngày sau khi ăn và tiếp tục trong cùng một khoảng thời gian sau khi lượng thức ăn ăn vào đã chấm dứt. Điều này trái ngược lại với khuyến cáo của MC Donal et al., (2010) là mỗi giai đoạn thực hiện khoảng 7-10 ngày nhưng theo Lê Đức Ngoan và ctv (2014) thì độ dài thời gian này phụ thuộc vào loại thức ăn: thức ăn thô và thức ăn không truyền thống cần nhiều thời gian nuôi chuẩn bị hơn thức ăn tinh, thức ăn truyền thống và thời gian thí nghiệm có thể ngắn hoặc dài hơn phụ thuộc loại thức ăn như đã đề cập ở trên.

Dựa trên những kết quả có được từ các tác giả thì chúng tôi có đề xuất một dạng mới cho mô hình thí nghiệm sau: một giai đoạn thí nghiệm được thực hiện trong 14 ngày như Nguyễn Văn Thu (2010) nhưng giai đoạn thích nghi kéo dài đến 10 ngày như đề xuất của MC Donal et al., (2010) và Lê Đức Ngoan và ctv (2014). Sau khi động vật ăn thích nghi khẩu phần mới được 7 ngày thì ngày thứ 8-14 ghi nhận lượng thức ăn cho ăn cùng với thức ăn thừa và lấy mẫu liên tục (7 ngày), riêng lượng phân thải ra được thu từ ngày thứ 11-14, có nghĩa là ghi nhận lượng phân thải ra và thu mẫu trong 4 ngày liên tục giống với Hồ Quảng Đồ (2014). Thu mẫu phân trong 4 ngày liên tục đã đảm bảo số lần lặp lại như mô tả của Nguyễn Bình Trường (2016) là cần có 4 đơn vị thí nghiệm trong một nghiệm thức và phù hợp với MC Donal et al., (2010) là cần nhiều hơn một động vật (thường là bốn) được sử dụng. Vì động vật, thậm chí cùng loài, tuổi và giới tính, nhưng khả năng tiêu hóa cũng khác nhau một chút trong bản thân nên lặp lại nhiều lần là cơ hội hơn để phát hiện các sai số và đảm bảo giai đoạn thích nghi là 10 ngày.

2.2 Phương pháp xử lý số liệu

Nguyên tắc cơ bản để tính lượng thức ăn tiêu thụ là tính được lượng dưỡng chất cho ăn trừ lượng dưỡng chất thừa; tính tỉ lệ tiêu hoá dưỡng chất của thức ăn phải có được giá trị lượng dưỡng chất tiêu thụ và giá trị dưỡng chất của phân thông qua công thứ Tỉ lệ tiêu hoá = {(dưỡng chất tiêu thụ - dưỡng chất trong phân)/dưỡng chất tiêu thụ}*100% theo MC Donal et al. (2010)

2.2.1 Xử lý số liệu thô

Giả sử một thí nghiệm ô vuông Latin với 4 nghiệm thức tương ứng với 4 giống dê: Bách thảo (1), Boer (2), Saanen (3), dê Cỏ (4) và 4 giai đoạn, số liệu bên dưới thể hiện trong một giai đoạn thí nghiệm với 14 ngày, 7 ngày thích nghi, 7 ngày thu thức ăn thừa và thu phân trong 4 ngày. Lượng thức ăn là cỏ VA06 cho ăn cố định là 4 kg/con/ngày

     Bước 1: Xử lý số liệu thô thực hiện trên từng giai đoạn

Thức ăn thừa được ghi nhận cho từng cá thể và tính trung bình trong 7 ngày tương ứng với dê số 1 là 0,671 đến dê số 4 là 0,601 kg

Cách thu phân theo đề xuất như phần trên, một giai đoạn là 14 ngày, chỉ thu phân vào 4 ngày cuối, như thế đảm bảo được 10 ngày cho gia súc ăn khẩu phần mới. Lượng phân thải ra được tính như thức ăn thừa, phân của dê số 1 là 0,340 đến dê số 4 là 0,352 kg.

     Bước 2: Xác định thành phần dưỡng chất

Trong mỗi giai đoạn thí nghiệm, ngoài việc cân lượng thức ăn cho ăn, thức ăn thừa và phân thì chúng ta phải lấy mẫu song song của từng cá thể để phân tích dưỡng chất. Cách lấy mẫu phải đảm bảo chính xác, tốt nhất là sử dụng cân điện tử loại 1 kg để cân mẫu và sau khi sấy mẫu khô và nghiền mịn thì trộn mẫu lại với nhau, đảm bảo mẫu trộn phải có được mẫu của các ngày thí nghiệm.

     Bước 3: Tính lượng dưỡng chất tiêu thụ thật sự

Lượng dưỡng chất tiêu thụ thật sự của dê phải tính riêng lẻ từ thức ăn cho ăn, thức ăn thừa. DMcho ăn = 4 x 15,4% = 0,616; NDFcho ăn = 0,616 x 56,9% = 0,350. Tương tự như thế chúng ta tính cho thức ăn thừa trên từng cá thể. Lượng dưỡng chất tiêu thụ = dưỡng chất cho ăn – dưỡng chất thừa, DMtiêu thụ = 0,616 – 0,117 = 0,498. Lưu ý rằng, trạng thái mẫu tươi chỉ sử dụng một lần duy nhất với DM% để qui ra ở trạng thái khô hoàn toàn, tất cả các chỉ tiêu còn lại như NDF, OM, CP... muốn tính được thì dựa vào giá trị DM vừa tính ra, nhân với tỉ lệ các dưỡng chất còn lại.

 

     Bước 4: Tính tỉ lệ tiêu hoá từng dưỡng chất

Phương pháp tính dưỡng chất trong phân cũng tương tự như thức ăn cho ăn và thức ăn thừa. Uớc tính tỉ lệ tiêu hoá từng dưỡng chất thông qua công thức của MC donal et al. (2010).

Tỉ lệ tiêu hoá DM = {(0,498 – 0,122)/0,498} x 100% = 75,5%

Tỉ lệ tiêu hoá NDF = {(0,278 – 0,067)/0,278} x 100% = 76,0%

2.2.2 Phân tích thống kê trên Minitab

Sau khi hoàn thành cách sắp số liệu theo mô hình thí nghiệm ô vuông Latin thì chuyển sang phần mềm Minitab 16 (Minitab, 2010)

Thực hiện lệnh phân tích theo trình tự:

+ Stat\Anova\General Linear Model: xuất hiện bảng hội thoại

+ Response: chỉ tiêu cần phân tích, Model: chọn nghiệm thức phân tích

+ Comparisons\Terms (chon giống như Model)

+ Lớp Resul, chọn Analysis of variance table, trong mục: Display least squares means corrosponding to the terms (chon giống như Model)

+ Ok

KẾT LUẬN

Điểm chú ý cơ bản nhất trong nuôi dưỡng gia súc ăn cỏ là phải thu nhận lượng thức ăn thừa. Thí nghiệm tiêu hoá in vivo thích hợp với nhiều mô hình thí nghiệm và ước đoán trực tiếp giá trị tiêu hoá thức ăn trên gia súc. Nên sử dụng phương pháp tính này trong điều kiện thực nghiệm.

 

* Tài liệu tham khảo - vui lòng xem tại đây

** Bài báo được đăng tại Tạp chí KHKT Chăn Nuôi, số 219 tháng 5/2017, trang 95-99

 

 

 

Nguyễn Bình Trường - K. Nông nghiệp

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.