Lịch sử nhà Hậu Lê thời Lê Trung Hưng tồn tại hơn hai thế kỷ (1533 – 1788), trải qua mười sáu đời vua. Trong các vị vua thời kỳ này nổi bật và thú vị hơn cả là vua Lê Thần Tông. Ông đặc biệt được hậu thế nhắc đến và nhớ mãi, không phải vì ông là một vị vua cai trị chuyên quyền độc đoán, cũng không phải vì tài năng trong cai trị đất nước của ông. Ông  trở nên đặc biệt là vì đã tự lập nên cho mình những “kỷ lục” mà rất ít các vị vua thời phong kiến Việt Nam nào cũng có thể làm được, “bốn lần xa giá xuất chinh, hai lần bước lên ngôi báu, đó cũng là điều xưa nay hiếm có” [1].

Lê Thần Tông (1607 – 1662), tên húy là Lê Duy Kỳ, là vị vua thứ sáu của nhà Lê Trung Hưng thuộc dòng dõi nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông sinh vào ngày 19, tháng 11 âm lịch, năm Đinh Mùi (1607), là con trai trưởng của vua Lê Kính Tông và hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trinh (con gái thứ của chúa Bình An vương Trịnh Tùng). Như vậy ông là cháu nội của Lê Thế Tông và cháu ngoại của Trịnh Tùng.

Tháng 9 năm 1662, Lê Thần Tông nhiễm bệnh ung thư, tuy đã chữa trị khỏi nhưng thể chất vẫn còn yếu và đến ngày 22 thì ông qua đời, hưởng thọ 56 tuổi. Thi hài vua được an táng tại lăng Quần Ngọc ở Ngọc Long, xã Quần Lai, huyện Lôi Dương (nay là huyện Thọ Xuân, Thanh Hoá).

Trong thời gian sống và trị vị của mình vua Lê Thần Tôngtừng hai lần lên ngôi, vị vua có nhiều vợ người ngoại quốc, ông là người Việt Nam đầu tiên lấy vợ phương Tây và có con nuôi người châu Âu, là vị vua có nhiều con làm vua nhất trong lịchsử Việt Nam. Chính những sự thú vị và đặc biệt đó các nhà nghiên cứu đã ví những điều ông làm được như những “kỷ lục” khó ai làm được:

Kỷ lục thứ nhất: vị vua duy nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam 2 lần lên ngôi

Lê Thần Tông sinh ra và lớn lên khi cuộc chiến tranh với nhà Mạc cơ bản đã chấm dứt(1592), nhưng đồng thời nhà Lê đã không còn lớn mạnh như trước. Các vuaLê đã đánh mất thực quyền của mình, quyền lực thực sự rơi vào tay của các chúa Trịnh. Trước tình thế đó, Lê Kính Tông (cha của vua Lê Thần Tông) cảm thấy bất bình. Ông  liên kết với người con thứ của Trịnh Tùng là Trịnh Xuân (cậu của vua Lê Thần Tông) định lật đổ Trịnh Tùng. Việc không thành, tháng 5 năm 1619,Trịnh Tùng buộc vua Lê Kính Tông thắt cổ chết, rồi lập Lê Duy Kỳ, khi mới 12 tuổi, lên làm vua mới, tức là Lê Thần Tông. Khi ông lên ngôi, quyền lực lại thuộc về chúa Trịnh Tráng (lên thay cho Trịnh Tùng).

Lê Thần Tông lên ngôi lần thứ nhất vào tháng 6, năm Kỷ Mùi (1619). Ở ngôi đến tháng 10, năm Quý Mùi (1643) thì truyền ngôi cho con là Lê Chân Tông.Việt Nam sử lượcviết về điều này như sau: “Thần Tông húy là Duy Kỳ, con vua Kính Tông. Làm vua đến năm Quí Mùi (1643) thì nhường ngôi cho thái tử, mà làm thái thượng hoàng” [2].Đại Việt sử ký toànthư chép như sao: “Mùa đông, tháng 10, xuống chiếu truyền ngôi cho Hoàng thái tử Duy Hựu. Duy Hựu lên ngôi ở điện Cần Chính, đổi niên hiệu là Phúc Thái năm thứ nhất. Đại xá thiên hạ gồm 27 điều. Tôn vua làm Thái thượng hoàng, Hoàng hậu Trịnh Thị làm Hoàng thái hậu” [3]. Lần thứ nhất Lê Thần Tông ở ngôi được 24 năm và đặt cho mình ba niên hiệu: Vĩnh Tộ (1619 – 1629),Đức Long (1629 – 1643)và Dương Hòa (1635 – 1643).  

Sau khi con là Lê Chân Tông mất, chúa Trịnh và quần thần lại rước Thái thượng hoàng lên ngôi lần hai vào tháng 10, năm Kỷ Sửu (1649) cho đến tháng 9, năm Nhâm Dần (1662).Việt Nam sử lượcviết điều này như sau: “Chân Tông mất không có con. Trịnh Tráng lại rước Thần Tông Thái thượng hoàng về làm vua. Lần thứ hai này ngài làm vua được 13 năm thì mất thọ 56 tuổi” [4]. Như đã nói trên lên ngôi lần hai này, Lê Thần Tông ở ngôi được mười ba năm và đặt bốn niên hiệu: Khánh Đức (1649 – 1653), Thịnh Đức (1653 – 1658), Vĩnh Thọ (1658 – 1662) và Vạn khánh (1662).Trong cả hai lần làm vua, ông đã ba lần đi Nam tiến đánh họ Nguyễn cùng với các chúa Trịnh (thời kỳ Trịnh Tráng và Trịnh Tạc). Trong thời gian ngự trên ngai vàng việc triều chính của Lê Thần Tông đều do họ Trịnh quyết định. Tuy vậy, nhà vua rất được lòng của nhân dân, ông được sử sách ca ngợi là ngườihiểu biết rộng và có trí tuệ. Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư:Vua sống mũi cao, mặt rồng, thông minh học rộng, mưu lược sâu sắc, văn chương hay, thực đáng là bậc vua giỏi”[5]. Tổng cộng ông có 37 năm ở ngôi và đã đặt bảy niên hiệu. Với thời gian tại vị của mình, ông trở thành vị vua có số năm ngự trên ngai vàng lâu thứ hai trong các đời vua thời nhà Lê Trung Hưng, chỉ sau vua Lê Hiển Tông (46 năm).Ông cũng là một trong những vị vua đặt nhiều niên hiệu cho mình.

Kỷ lục thứ hai: vị vua đầu tiên có vợ là người phương Tây

Vua Lê Thần Tông là người Việt Nam đầu tiên lấy vợ phương Tây (người Hà Lan). Ngoài bà vợ đầu tiên là Trịnh Thị NgọcTrúc, vua Lê Thần Tông có năm phi tần nữa và điều kỳ lạ rằng, mỗi bà đều thuộc một dân tộc(quốc gia) khác nhau: vợ thứ hai là người Xiêm (Thái Lan), vợ thứ ba là người Mường, vợ thứ tư là người Hán, vợ thứ năm người Ai Lao (Lào) và vợ thứ sáu người Hà Lan. Rất ít có vị vua phong kiến Việt Nam nào lấy vợ thuộc nhiều dân tộc đến như vậy. Trong sáu người vợ thì đã có đến bốn người ngoại quốc:một người châu Âu và ba người Châu Á.

Trong bốn người vợ ngoại quốc đặc biệt hơn cảlà người vợ thứ sáu của ông có gốc là người Hà Lan. Bà tên là Orona, là con gái của Phó toàn quyền Hà Lan tại Đài Loan. Năm 1630, trong chuyến thương đoàn Hà Lan sang Việt Nam, bà Orona được gặp vua Lê Thần Tông ở Thăng Long. Nghe theo lời của bố, bà ở lại Việt Nam làm vương phi của vua Lê Thần Tông. Đây là bà hoàng đầu tiên và duy nhất trong các triều đại phong kiến Việt Nam là người châu Âu. Những ngày ở Thăng Long, bà buồn rầu vì lần đầu tiên sống ở kinh thành với hầu hết những người quen không biết. Thêm vào đó, việc không biết nói tiếng Việt cũng cản trở bà rất nhiều trong việc giao tiếp với những người xung quanh. Bà đã học tiếng Việt để có thể giao tiếp với mọi người. Tình cảm giữa bà và nhà vua cũng rất sâu đậm.

Bên cạnh đó, chuyện tình của nhà vua với các bà vợ khác cũng rất đặc biệt, các người vợ của vua sống rất hòa thuận và yêu thương nhau như chị em. Điều đó được thể hiện qua câu chuyện, khi chết cả sáu người vợ này cũng bày tỏ ý nguyện có thể ở bên nhau mãi mãi. Tương truyền rằng sáu pho tượng nhập thần của sáu người vợ vua Lê Thần Tông ở chùa Mật Sơn, tỉnh Thanh Hóa là do sáu bà cùng lòng cùng sức bỏ tiền công đức ra làm, với nguyện ước mãi mãi bên nhau. Trong đó, tượng bà Hoàng hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc ngự trên toà sen còn các bà khác đội vương miện trong tư thế tọa thiền. Mỗi pho tượng thể hiển một nét dung nhan khác nhau và thấy rõ trang phục của mỗi bà đúng theo y phục dân tộc của từng người. Đặc biệt, y phục, váy áo của pho tượng tạc bà người Hà Lan, dù là tượng thờ, cổ áo trong vẫn trễ xuống để lộ một mảng ngực.Năm 1959, năm pho tượng vợ vua Lê Thần Tông đã được rước về đền nhà Lê – di tích được xếp hạng Di tích lịch sử cấp nhà nước - chỉ cách chùa Mật Sơn chừng hơn 1km, thuộc địa phận phường Đông Vệ.Riêng tượng bà Trịnh Thị Ngọc Trúc được đưa về Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.

Kỷ lục thứ ba: vị vua có nhiều hoàng tử lên ngôi vua nhất trong lịch sử

Lê Thần Tông cũng là vị vua có nhiều con làm vua nhất trong lịch sử Việt Nam, với bốn người con trai thay nhau làm vua. Một điều đặc biệt là cả bốn con trai này đều liên tiếp làm vuavà vị vua nào cũng được khen ngợi là hiền từ đức độ như minh quân.

-     Lê Chân Tông(1630 – 1649) là con trưởng của vua Lê Thần Tông, tên thật là Lê Duy Hựu. Ông sinh năm Canh Ngọ (1630), mất tháng 8 năm Kỷ Sửu (1649), thọ 20 tuổi. Lên ngôi từ tháng 10 năm Quý Mùi (1643), sau khi vua Lê Thần Tông nhường ngôi cho ông, đến tháng 8 năm Kỷ Sửu (1649), làm vua được sáu năm.Sách Đại Việt Sử ký toàn thư chép về vua như sau: “Vua tính trầm tĩnh, khoan dung phúc hậu, có đức của người làm vua” [6]. Do Chân Tôngmất không con nối dõi nên vua cha là Lê Thần Tông lại lên làm vua lần thứ hai.

-     Lê Huyền Tông(1654 – 1671), sinh năm Giáp ngọ (1654), tên thật là Lê Duy Vũ. Sau khi vua Lê Thần Tông qua đời, tháng 10 năm Nhâm Dần (1662) ông lên ngôi. Ông là một vị vua yểu mệnh, sau khi ở ngôi được chín năm, ông mất vào ngày 15 tháng 10 năm Tân Hợi (1671).Sách Đại Việt Sử ký toàn thư chép về vua như sau: “vua tính trời nhân hậu, vẻ người đoan nghiêm, những năm ở ngôi, trong nước yên trị, thóc lúa được mùa, cũng đáng gọi là bậc vua hiền vậy. Nhưng ở ngôi không được lâu, thực đáng tiếc!” [7].

-     Lê Gia Tông(1661-1675), sinh năm Tân Sửu (1661), tên thật là Lê Duy Cối. Lên ngôi ngày 19 tháng 11 năm Tân Hợi (1671) khi mới 10 tuổi. Đến ngày 3 tháng 4 năm Ất Mão (1675) vua bị bệnh mất, ở ngôi được bốn năm.Sách Đại Việt Sử ký toàn thư chép về vua như sau: “Vua tướng mạo anh vĩ, tính thời khoan hòa, có đức độ của người làm vua, tiếc rằng ở ngôi không được lâu, chưa thấy sự nghiệp gì” [8].

-     Lê Hy Tông(1663–1716) là con thứ tư của Lê Thần Tông,tên thật là Lê Duy Cáp,sinh ngày 15 tháng 3 năm Quý Mão (1663). Lên ngôi từ ngày 12 tháng 6 năm  Ất Mão (1675) đến tháng 4 năm Ất Dậu (1705), làm vua được ba mươi năm. Ông được người đời ca ngợi là vị vua anh minh đức độ bậc nhất thời Lê Trung Hưng, “Vua tuân giữ cơ nghiệp có sẵn của tiên vương, rủ áo khoanh tay mà trị, kỷ cương được chấn hưng, thưởng phạt nghiêm minh, các công khanh phần nhiều điều xứng chức, các quan lại vâng theo pháp luật, dân chúng yên ổn làm ăn, chính sự khoảng niên hiệu Vĩnh Trị (1676 – 1680) và Chính Hòa (1681 – 1704) xứng đáng được coi là đứng đầu đời Trung Hưng” [9].

Nhà vua có bốn người con trai làm vua nhưng ba người đầu chết sớm mỗi người chỉ ở ngôi vài năm, còn người con thứ tư ở ngôi được ba mươi năm và đã có đóng góp lớn cho thời Hậu Lê. Bốn vị vua đó đều là con của các bà thứ phi.Tính chung, Lê Thần Tông và bốn người con trai của ông đã có 80 năm trị vì trên ngôi vua. Ngoài bốn người con trai trên, nhà vua còn có sáu công chúa và ba người con nuôi (trong đó có một người Hà Lan tên là Charles Hartsink). Như vậy, nhà vua không chỉ có vợ người châu Âu mà còn có cả con nuôi người châu Âu nữa.

Qua những điều nói trên có thể thấy được cuộc đời về Lê Thần Tông, ông quả thật là một vị vua rất khác lạ và đặc biệt. Cũng chính từ những điều khác lạ về ông mà sự lịch sử thời Lê Trung Hưng đã hé lộ phần nào về kinh tế, chính trị và xã hội của nước ta thời bấy giờ. Nó nói lên rằng mối quan hệ ngoại giao của nước ta đã phát triển đến cả các nước ở châu Âu xa xôi. Vào thời điểm cách nay hơn 400 năm trước, sự giao lưu, tiếp xúc giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng cũng như phương Tây đã được không ngừng phát triển.

Như vậy vua Lê Thần Tông là người duy nhất trong số 108 vị vua chúa của 15 triều đại phong kiến Việt Nam có hai lần lên ngai vàng (7 niên hiệu) và có đến 4 người con đều làm vua. Không những thế, Lê Thần Tông còn tạo ra “kỷ lục”đặc biệt khi ông là vị vua Việt Nam đầu tiên lấy vợ Tây và cũng là vua có nhiều vợ là người các dân tộc. Ngày nay việc lấy vợ ngoại quốc, lấy vợ người phương Tây không còn lạ nữa, nhưng với một ông vua cách nay hơn 400 năm thì điều đó thật không hề dễ dàng.

Với sự thông minh, khoan dung,phúc hậu và những kỷ lụcđặc biệt thú vị mà Lê Thần Tông có được tin rằng ông sẽ được người đời sau nhớ mãi.

Chú thích:

[1] Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư (tập III), Bản kỷ tục biên, quyển XXI – kỷ nhà Lê, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 323.

[2] Trần Trọng Kim (2002), Việt Nam sử lược, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.285.

[3] Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư (tập III), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.237.

[4] Trần Trọng Kim (2002), Việt Nam sử lược, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, tr.286.

[5] Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư (tập III), Bản kỷ tục biên, quyển XVIII – kỷ nhà Lê, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.222.

[6] Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư (tập III), Bản kỷ tục biên, quyển XVIII – kỷ nhà Lê, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 238.

[7] Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư (tập III), Bản kỷ tục biên, quyển XIX – kỷ nhà Lê, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 263.

[8] Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư (tập III), Bản kỷ tục biên, quyển XIX – kỷ nhà Lê, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 287.

[9] Đại Việt sử ký toàn thư (phần tiếp - tập I), Bản kỷ tục biên (1676 – 1740), quyển XX – kỷ nhà Lê, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 17.

Tài liệu tham khảo:

Lê Thái Dũng (2014), Tóm lược niên biểu lịch Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội

Viện khoa học xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư (tập III), Bản kỷ tục biên, quyển XVIII, XIX, XX, XXI, XXII – kỷ nhà Lê, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.

Nguyễn Khắc Thuần (1998), Việt sử giai thoại (tập 6) – 65 giai thoại thế kỷ XVI – XVII, NXB Giáo dục, Tp.Hồ Chí Minh

Trần Trọng Kim (2002), Việt Nam sử lược, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội

Nguyễn Văn Nhanh - DH15SU

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.