Một ngày giữa tháng bảy, khi tiết trời đang giao mùa, có nắng, có gió và những cơn mưa. Cái nắng không còn nóng và bầu trời cũng không cao vời vợi như đầu hè nữa. Ở xa có những đám mây mang nặng màu của khói, của rêu phong thời gian và quá khứ.

Chiều Chúa nhật, tôi vẫn hay đạp xe loanh quanh, có khi mải mê rồi đi được quãng đường thật xa thành phố. Vòng quay bánh xe hôm nay đưa tôi dừng lại Nghĩa trang Liệt sĩ. Trước mặt tôi là khoảng rau bợ xanh um, điểm trên đó là những chấm hoa vàng vàng. Cả một khoảng sân rộng như vậy tạo nên một cảm giác xanh mát, tươi mới lạ kỳ. Nó bao trùm cả những tiếng ồn xe cộ chạy ngoài kia.

Ảnh minh họa. Nguồn: enews.agu.edu.vn

Tôi chậm chậm dẫn xe vào cánh cổng lớn của Nghĩa trang. Sau hàng cây sứ đang hoa trắng là những khu mộ. Một chút gì đó lặng lẽ, một chút gì đó choáng ngộp. Khu Nghĩa trang buổi chiều tà thật hoang vắng, buồn man mác. Tôi đứng đấy ngắm nhìn một lượt, khung cảnh trong mắt tôi nhòe đi.

Ba năm trước, tôi vinh dự được cùng cả trăm đoàn viên sinh viên tình nguyện tham gia chương trình thắp nến tri ân. Hôm nay một mình trở lại ngoài dự tính, cảnh tượng vẫn như thế, vẫn hàng cây đó và các dãy mộ san sát nhau. Nhưng hôm nay cảm giác thật khác. Đang đứng ngó ngẩn ngơ, tôi cứ nghĩ tôi một mình ở đây, nhưng không phải, sau khu C tôi thấy thấp thoáng có người. Hình như là một bác trai, mặc áo sơ mi màu xanh rêu và có lẽ đã cũ. Im lặng quan sát một lúc thì tôi nhận ra bác ấy đang thắp nhang cho những ngôi mộ. Khi thấy tôi, bác ấy nheo mắt nhìn rồi vẫy vẫy tay có ý gọi tôi lại. Tôi vội dựng xe và tiến lại phía bác ấy.

Ảnh minh họa. Nguồn: enews.agu.edu.vn

Bác ấy hỏi sao chú bây… giờ này ở đây? Tôi chưa kịp trả lời thì bác ấy đã nói tiếp. Qua câu chuyện, tôi biết được bác ấy nhà kế Nghĩa trang này. Chiều nào bác ấy cũng sang đây đi một lượt để thắp nhang cho những ngôi mộ. Thật ra thì theo lời bác, hằng ngày vẫn có người đến thắp nhang nhưng bác ấy đã quen rồi, mà đã là thói quen thì không bỏ được. Cứ chiều chiều là ăn mặc chỉnh tề, mang theo nhang và cái đèn dầu nhỏ thời bao cấp còn tới bây giờ để viếng mộ Liệt sĩ. Tôi ngồi nghe bác ấy kể, mắt vô định, rồi điểm mắt dừng lại nơi bàn chân ấy. Thì ra bác ấy bị mất một bên chân trái. Bác ấy biết tôi nhìn thấy nên vỗ vai tôi một cái rõ đau. Chú bây đang nghĩ gì bác biết, mà gì chứ, bàn chân ấy bác gửi ở xa, bác ấy vừa nói vừa cười hề hề. Tôi lúng túng. Tôi chưa bao giờ gặp ai mà trước khiếm khuyết của cơ thể lại bình thường nói đùa đến vậy.

Bác nói, bác sống ở đây một mình, không vợ, không con cái. Lâu dần thì cũng quen, ra vô với mái nhà tình nghĩa Tỉnh đoàn xây cho, không quá khang trang nhưng đủ che cái thân khỏi nắng, khỏi mưa, khỏi những ồn ào đô thị. Mọi người vẫn hay đến thăm nom, biếu quà cho bác nhưng bác nói bác còn lao động được thì nên giúp đỡ những người thật sự khó khăn hơn. Trước nhà bác có một khoảng sân cũng không quá rộng nhưng đủ để bác dựng một cái trại nhỏ, trong đó có ít dụng cụ mài đá, đục, búa và một ấm trà với vài cái ly con. Bác nói, trước giờ bác còn vui vẻ, khỏe mạnh là nhờ còn lao động hằng ngày. Bác làm non bộ bằng đá, hoặc mài các phiến đá cho đẹp một chút, người ta sẽ mua về trưng bày sân vườn, cá cảnh. Một món làm xong cũng mất vài ngày, lâu là cả tháng. Nhưng có lâu thì tác phẩm mới sống động. Bác không kể tôi nghe đơn thuần mà tôi còn thấy trong mắt bác là cả một đam mê, cả một sự yêu thích rất lớn. Rồi bác nói sang chuyện ngày chiến tranh, vì đồng đội bác nằm lại đây, mấy chục người lúc trước nhưng giờ chỉ biết tên một, hai người, còn lại thì không biết đang lạnh lẽo ở đâu… Bác ở đây để hy vọng một ngày nào đó, ngày bác còn sống sẽ gặp lại những người đồng đội năm xưa,… Nói tới đây bác im lặng, đứng dậy cầm theo  đèn và bó nhang rồi bảo tôi có muốn đi một vòng với bác không. Tôi bước theo bác…

Ảnh minh họa. Nguồn: enews.agu.edu.vn

Một buổi chiều vài chục phút với một người không quen biết nhưng trong tôi quá nhiều suy nghĩ về một thương binh bước ra từ chiến tranh, mất mát máu xương và nhiều nước mắt. Nhưng tôi không thấy một sự đòi hỏi nào từ bác, bác cùng đồng đội đã hy sinh cả tuổi trẻ, cả thân thể để bây giờ tôi và hàng triệu con người khác có được những buổi chiều thong dong như thế này. Trái lại giật mình mà nghĩ xem, những người trẻ như tôi, bây giờ đã làm gì được cho ai, làm gì được cho đất nước mà ngày nào cứ mở mắt thức dậy là một câu đã đòi hỏi, hai câu thì đã than thở. Chưa kể lối sống lãng phí hay làm một chút ít việc gì đó mang danh từ thiện, tình nguyện đã muốn cho cả thế giới biết. Có một chút khó khăn đã không thể dậy nổi và mặc cho số phận, cũng chẳng buồn nghĩ ngợi. Buông thả và vô cảm với những gì xung quanh, để rồi khi thất bại lại mở tiếng trách cuộc đời quá bất công với mình…

Tôi chợt nhớ đến cái nơi xa mà bác ấy nói đùa đã gửi lại bàn chân. Có lẽ nơi xa ấy là một vùng đất xa xăm, nơi đất mặn phèn chua, một sườn núi nào đó hoặc thậm chí là bên kia biên giới… Có ở đâu thì bàn chân ấy cũng sẽ được bảo bọc bởi đất, bởi nước, bởi con người Việt Nam 70 mùa thu qua hay lâu hơn thì vẫn vậy. Tôi vô định trong miền suy nghĩ, tôi nghĩ một cảm giác gì đó đang thay đổi trong tôi. Vòng bánh xe quay đưa tôi lại nơi ồn ào phố xá nhưng lòng tôi bình yên đến lạ…

Thúy Quỳnh – 13NH

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.