In bài này 

1. Đặt vấn đề

 Bò là loài vật đẳng nhiệt,không thích ứng với sự thay đổi đột ngột của thời tiết, điều này đã thể hiện rõ qua các trận rét làm chết hàng loạt gia súc ở khu vực miền Bắc của Việt Nam. Nghiên cứu nâng cao năng suất trong chăn nuôi bò là tối ứu hoá cho nhu cầu dinh dưỡng trên từng giai đoạn tuổi và trên từng giống bò thịt. Tiểu khí hậu chuồng nuôi có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng thích ứng của bò, nhằm đáp ứng cho khả năng sản xuất là rất cần thiết. Môi trường sống và giá trị dinh dưỡng khẩu phần là yếu tốt kết hợp tác động, giúp vật nuôi phát huy tối đa tiềm năng di truyền của giống. Do đó, bài viết này nhằm mục tiêu xác định ảnh hưởng của tiểu khí hậu trên bò thịt.

2. Ảnh hưởng của tiểu khí hậu

Biến đổi khí hậu là chủ đề đang được thảo luận khá nhiều trên các diễn đàn khoa học, hệ quả của biến đổi khí hậu trong chăn nuôi là chỉ tiêu nhiệt độ và ẩm độ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất của đàn bò. Những thay đổi đột ngột của thời tiết được gọi chung là stress, tính trên điều kiện khí hậu của Việt Nam là nóng ẩm thì tress nhiệt là điều đáng quan tâm hàng đầu. Stress nhiệt có tác động xấu đến năng suất vật nuôi như: giảm sức sinh trưởng, giảm mức ăn vào, gây sẩy thai, chậm động dục… biểu hiện trên gia súc không có tuyến mồ hôi như bò là tăng nhịp thở, nhịp tim, uống nhiều nước và có thể dẫn đến chết nếu không thích ứng. Bò có khối lượng hơn 500 kg hay da có màu sẫm thì dễ mẫn cảm với stress nhiệt hơn những bò có khối lượng nhỏ hơn 500 kg và da màu sáng, khi vượt quá nhiệt độ tới hạn cao là mức nhiệt độ bắt đầu gây stress nhiệt làm ảnh hưởng đến sức khoẻ hoặc khả năng sản xuất của bò thịt (Nguyễn Sinh và Nguyễn Hà, 2008). Theo Oliveira et al. (2011) thì đàn bò của Brazil chủ yếu là Bos indicus, đại diện là giống Nellore đã thích nghi tốt với môi trường nhiệt đới, khi sử dụng con lai F1 (Bos indicus × Bos taurus) sẽ phát huy được ưu thế lai trên chất lượng thân thịt.

Khí hậu vào mùa khô ở vùng Đông Nam Bộ rất dễ xãy ra hiện tượng stress nhiệt và làm giảm sức đề kháng vật nuôi. Người nuôi có thể khắc phục hiện tượng này bằng cách cung cấp nước đầy đủ cho bò, tạo thông thoáng cho chuồng trại... Nhiệt độ không khí mùa hè lên cao, cứ mỗi 50 kg thể trọng bò cần cho uống 8 lít nước, tốt nhất nên cho bò uống nước lạnh hoặc bồn chứa nước, máng uống cần được che nắng. Khi nhiệt độ không khí hơn 330C, bò có thể uống nước nhiều gấp đôi so với nhiệt độ 200C (Nguyễn Thị Anh, 2016). Trong điều kiện nuôi dưỡng bán chăn thả tại Đăk Lăk trên đàn bò lai Sind và lai ½ Angus của Văn Tiến Dũng và ctv (2010), nhiệt độ bình quân trong ngày tăng từ 23,20C (lúc 4h sáng) lên đến 32,00C (lúc 13h trưa) và sau đó giảm dần xuống còn 23,60C (lúc 1h sáng). Tuy nhiên, sự khác nhau về thân nhiệt giữa 2 giống lai chỉ có ý nghĩa về thống kê ở thời điểm 16h và 19h trong khi sự khác nhau về nhịp thở giữa 2 giống xuất hiện tất cả các thời điểm theo dõi ngoại trừ thời điểm 10h sáng. Sự khác nhau về hai chỉ tiêu sinh lý này giữa hai giống phản ánh sự khác nhau trong quá trình thu nhận, tiêu hóa, hấp thu thức ăn và quá trình trao đổi chất. Các hoạt động này của bê lai ½ Red Angus diễn ra mạnh mẽ hơn nên bê có nhịp thở cao hơn. Tiếp theo kết quả này là nghiên cứu của Nguyễn Bá Trung và Nguyễn Bình Trường (2016) tại An Giang qua Bảng 1.

Bảng 1: Hoạt động của bò lai hướng thịt trong 24h

Chỉ tiêu

F1Red Angus

F1Red Brahman

Cái

Đực

Trung bình

Cái

Đực

Trung bình

Ăn (phút)

367±25,4a

444±17,7a

406±45,6

333±16,2b

420±4,20b

377±47,3

Nhai lại (phút)

418±23,2

480±24,4a

449±39,5

397±18,7

445±21,2b

421±35,1

Ngủ (phút)

155±14,7

168±13,0

161±14,9

156±11,0

169±19,3

163±16,0

Nghỉ (phút)

500±45,0

348±46,0

424±91,0

552±32,8

406±36,0

479±83,0

Lấy thức ăn (lần)

15,0±0,70

15,4±0,60

15,2±0,60

15,0±1,00

15,2±0,80

15,1±0,90

Uống nước (lần)

10,4±0,54

10,4±0,90

10,4±0,70

9,80±0,80

10,2±1,00

10,0±0,90

Tiểu (lần)

14,4±0,90

15,0±1,20

14,7±1,00

14,6±1,10

14,8±1,00

14,7±1,00

Đi phân (lần)

5,80±0,80

5,40±0,50

5,60±0,70

4,80±0,80

5,20±0,80

5,00±0,80

 

Nguồn: Nguyễn Bá Trung & Nguyễn Bình Trường (2016); Các chử cái a,b,c trong cùng một hàng có mang ít nhất một chữ  giống nhau thì khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05).

Kết quả Bảng 1 thể hiện, thời gian lấy thức ăn trong 24h của F1 Red Angus là 406±45,6 phút cao có ý nghĩa thống kê so với F1 Red Brahman là 377±47,3 phút, theo đó thời gian nhai lại của F1 Red Angus cũng nhiều hơn so với F1 Red Brahman. Số lần lấy thức ăn, uống nước, tiểu và đi phân giữa hai giống lai khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Các chỉ tiêu thân nhiệt, nhịp tim và nhịp thở trên các mốc thời gian theo dõi đều khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa 2 giống lai. Chỉ duy nhất tại thời điểm 13h, nhịp thở của F1 Red Angus là 32±1,4 lần/phút cao có ý nghĩa thống kê so với F1 Red Brahman là 29±1,6 lần/phút, nhưng điều này ảnh hưởng bởi hộ nuôi xây chuồng nuôi không thông thoáng và thiếu cây xanh che bóng mát. Như thế, bò lai F1 hướng thịt có khả năng thích nghi tốt trong điều kiện khí hậu của An Giang.

Nghiên cứu của Đoàn Đức Vũ và ctv. (2008) thực hiện thí nghiệm từ 2006-2008 tại TP. Hồ Chí Minh trên bò lai hướng thịt giữa bò cái lai Sind với tinh bò Charolais và Simmental, bò lai với tỉ lệ máu 75% Charolais và 75% Simmental. Kết quả ghi nhận tại Bảng 2

Bảng 2. Nhịp thở, nhịp tim và thân nhiệt của các nhóm con lai

Chỉ tiêu

Mùa

Lai Sind

50% Cha. Simmental

75% Cha. Simmental

25% Cha. Simmental

Bình quân

Nhịp thở (Nhịp/phút)

Bình quân

24,1±3,3

29,1±2,6

28,2±2,6

26,0±3,1

26,9

Mùa mưa

22,6±2,9

25,5±3,1

29,1±3,8

23,1±2,9

25,1

Mùa khô

23,4±3,5

27,3±2,5

28,7±4,1

24,6±3,0

26,0

Nhịp tim (Nhịp/phút)

Bình quân

61,6±4,3

60,8±4,8

59,2±5,7

56,5±3,9

58,9

Mùa mưa

62,4±5,9

59,3±7,7

58,8±6,8

55,1±4,6

60,1

Mùa khô

60,7±6,3

62,3±5,7

59,6±4,8

57,9±5,1

59,5

Thân nhiệt (oC)

Bình quân

38,3±1,7

38,3±2,2

38,2±1,6

37,7±1,9

39,1

Mùa mưa

37,4±2,1

36,8±1,8

37,6±2,3

36,9±1,6

37,2

Mùa khô

39,2±2,2

39,8±1,9

38,8±1,3

38,5±2,1

38,1

 

Nguồn: Đoàn Đức Vũ và ctv. (2008), Cha.: Charolais

Bảng 2 thể hiện, chỉ tiêu theo dõi là nhịp thở, nhịp tim và thân nhiệt trên 4 nhóm con lai khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Nhịp thở dao động trong khoảng 24,1±3,3 đến 29,1±2,6 nhịp/phút, nhịp tim trung bình là 58,9 nhịp/phút (56,5±3,9 đến 61,6±4,3) và thân nhiệt là 39,10C (37,7±1,9 đến 38,3±2,2). Nhóm nghiên cứu đã kết luận, một số chỉ tiêu sinh lý như nhịp tim, nhịp thở, thân nhiệt và các chỉ tiêu sinh lý máu của các nhóm con lai giữa bò lai Sind với các giống bò Charolais, Simmental đều nằm trong ngưỡng bình thường, chứng tỏ chúng có khả năng thích nghi trong điều kiện nóng ẩm ở Việt Nam. Trạng thái sinh lý của bò ảnh hưởng bởi tiểu khí hậu chuồng nuôi, trên bò sữa thể hiện rõ rệt với vấn đề stress nhiệt nhưng trên bò thịt thì chưa thể hiện rõ. Các kết quả nghiên cứu đã chứng minh các giống bò lai Zebu hay lai chuyên thịt thích nghi tốt trong điều kiện khí hậu Việt Nam nếu xây dựng chuồng nuôi thông thoáng và cung cấp đầy đủ nước uống.

3. Kết luận

Bò thịt đang thích nghi với điều kiện khí hậu hiện nay nên stress nhiệt chưa thể hiện rõ. Một số nghiên cứu cho thấy, cần sử dụng con lai F1 (Bos indicus × Bos taurus) để phát huy được ưu thế lai trong khí hậu nhiệt đới.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Đoàn Đức Vũ, Phạm Hồ Hải và Phan Việt Thành (2008),Đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng và một số chỉ tiêu sinh lý của bò lai hướng thịt giữa bò lai Sind với bò Charolais, Simmental. Đọc từ http://www.cnshchannuoi.com/tin-tuc/44-danh-muc-cac-bai-bao.htm ngày 29 tháng 11 năm 2016. 

Nguyễn Bá Trung và Nguyễn Bình Trường (2016), Đánh giá tính thích nghi của con lai F1 giữa bò cái vàng với giống Red Angus và Red Brahman nuôi ở nông hộ tại tỉnh An Giang, Trường Đại học An Giang: ĐT nghiên cứu khoa học cấp Trường.

Nguyễn Sinh và Nguyễn Hà (2008), Stress nhiệt, stress lạnh và chỉ số nhiệt - ẩm, phần I - stress nhiệt. Tạp chí chăn nuôi số 8 – 08, trang 47-48.

Nguyễn Thị Anh (2016), Ảnh hưởng của stress nhiệt đến vật nuôi trong mùa khô ở vùng Đông Nam Bộ và biện pháp khắc phục. http://www.iasvn.vn/tin-tuc/nghien-cuu-khoa-hoc-nuoc-ngoai/anh-huong-cua-stress-nhiet-den-vat-nuoi-trong-mua-kho-o-vung-dong-nam-bo-va-bien-phap-khac-phuc.html 

Oliveira I. M. D., Pedro Veiga Rodrigues Paulino, Sebastião de Campos Valadares Filho, Edenio Detmann, Mário Fonseca Paulino, Lúcio Alberto de Miranda Gomide, Marcio de Souza Duarte and Victor Rezende Moreira Couto (2011), Carcass traits of Nellore, F1 Simmental × Nellore and F1 Angus × Nellore steers fed at maintenance or ad libitum with two concentrate levels in the diet. Revista Brasileira de Zootecnia, v.40, n.12, p.2938-2946, 2011. 

Văn Tiến Dũng, Nguyễn Tấn Vui và Ðinh Văn Tuyền(2010), Tập tính thuờng ngày và mối quan hệ giữa chỉ số nhiệt ẩm (thi) với các chỉ tiêu sinh lý của bê lai Sind và lai ½ Red Angus nuôi bán chăn thả tại Đăk Lăk. Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi -  Số 23-Tháng 4 – 2010, trang 63-71

Phạm Thị Kim Phượng (K.SP) - Nguyễn Bình Trường (K.NN&TNTN)

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.