Với lối viết mộc mạc, đậm chất Nam Bộ cùng sự am hiểu dày dặn kết hợp thông tin từ hàng trăm nguồn tư liệu quý, Sơn Nam đã cho ra mắt nhiều tác phẩm hay về lịch sử và con người mảnh đất Nam Bộ.

Nhà văn, nhà báo, nhà nghiên cứu Sơn Nam (1926 – 2008) tên thật là Phạm Minh Tài, tại làng Đông Thái, quận An Biên, tỉnh Rạch Giá (nay thuộc xã Đông Thái, huyện An Biên, tỉnh Kiên Giang). Khi nhà văn Sơn Nam chào đời, mẹ ông không đủ sữa nuôi con, may mắn ở xóm có người phụ nữ Khmer tốt bụng, đã cho ông “bú mớm”. Sau này lớn lên viết văn, nhớ ơn người phụ nữ, ông lấy bút danh bắt đầu bằng chữ Sơn (tức một họ lớn phổ biến của dân tộc Khmer) còn chữ Nam để gợi nhắc mình là người phương Nam.

Nói đến nhà văn Sơn Nam không thể không nhắc đến những cống hiến của ông cho Nam Bộ về mặt học thuật và nghiên cứu lịch sử-văn hóa. Vì thế, ông được nhiều người gọi yêu là "ông già Nam Bộ", "ông già Ba Tri", "ông già đi bộ’”, "pho từ điển sống về miền Nam" hay là "nhà Nam Bộ học".  Những tác phẩm đã đi vào lòng người của ông về văn hóa Nam Bộ như Nói về miền Nam, Cá tính của miền Nam, Đình miễu và lễ hội dân gian miền Nam,…; về địa danh miền Nam như:Danh thắng miền Nam, Xóm Bàu Láng ,…Trong đó, nổi bật nhất là ba biên khảo:  “Lịch sử khẩn hoang Miền Nam”, “Tìm hiểu đất Hậu Giang và Lịch sử đất An Giang”, “Đất Gia Định – Bến nghé xưa và người Sài Gòn”. Đây là 3 tác phẩm tái hiện rõ nhất về con người và lịch sử của vùng Nam Bộ. Trong đó, nhà văn tập trung vẽ nên bức tranh thiên nhiên và con người hài hòa đậm nét miền Tây sông nước.

“Lịch sử khẩn hoang miền Nam” sẽ khái quát những lợi ích về kinh tế, chính trị, xã hội và quân sự từ việc khẩn hoang. Tác giả nhấn mạnh tác dụng giao thông thuận lợi và quản lý nội trị, ngoại xâm vững chắc của việc khai hoang, đồng thời, chú trọng đến ba vùng đất quan trọng của Nam Bộ và là nơi được cư dân đến lập nghiệp muộn: Rạch Giá–đất rộng người thưa, Bạc Liêu và Cà Mau–xa xôi phức tạp, Cần Thơ–đầu cầu và thủ đô của Hậu Giang.

Ảnh minh họa. Nguồn: adayroi.com

Một nội dung đặc biệt của tác phẩm mà Sơn Nam muốn trình bày đó là hai vụ án về ruộng đất gây xôn xao dư luận báo chí trong và ngoài nước: vụ Ninh Thạnh Lợi năm 1927 ở Rạch giá và vụ Nọc Nạn năm 1928 tại Bạc Liêu. Qua hai sự việc trên người đọc sẽ thấy được ruộng vườn, đất đai của miền “quê cha đất tổ” quý giá như thế nào đối với người dân Nam Bộ. Dưới sự áp bức của bọn thực dân Pháp cùng bè lũ tay sai, nông dân vẫn quyết đấu tranh đến cùng để bảo vệ nơi “chôn nhau cắt rốn”. Tác giả cũng thể hiện lòng kính trọng và khâm phục trước ý chí sắt đá của người dân “chân lấm tay bùn” nhưng dám xả thân vì xóm làng, quê hương.

“Tìm hiểu đất Hậu Giang và Lịch sử đất An Giang”, “Đất Gia Định–Bến nghé xưa và người Sài Gòn” là hai quyển viết về 5 vùng đất khác nhau và lúc đầu là 5 tác phẩm của Sơn Nam. Nhưng về sau, thấy được mối “quan hệ hữu cơ” giữa mảnh đất Hậu Giang–An Giang và Gia Định–Bến Nghé-Sài Gòn nên nhà xuất bản Trẻ đã cho ấn hành chung với nhau thành hai quyển để tiện cho độc giả nghiên cứu. Các vùng đất trên nói riêng và Nam Bộ nói chung là vựa lúa lớn nhất nước ta. Ở mỗi vùng đất, tác phẩm trình bày về địa lý, con người, lịch sử khai phá, nghề trồng lúa, văn hóa – lối sống và đặc biệt là mối liên hệ giữa con người Nam Bộ với các vùng đất.

Ảnh minh họa. Nguồn: YBOOK.vn

Ba quyển sách trình bày lịch sử mở mang vùng đất Nam Bộ từ tỉnh Bình Phước đến tận mũi Cà Mau ngày nay. Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ khi xưa chỉ là những khu rừng hoang vu, lau sậy um tùm, là nơi “rừng rú”, “chim kêu vượn hú” nên dân cư rất thưa thớt. Sau đó lưu dân Việt thiên di vào Nam kết hợp với người Miên và Hoa đến khai thác, dần trở nên trù mật và đông đúc. Từ đó mảnh đất Nam Bộ, nổi bật hơn cả là vùng Hậu Giang–An Giang và Gia Định–Bến Nghé–Sài Gòn đã trở thành địa bàn hoạt động, giao lưu văn hóa truyền thống của 3 dân tộc: Việt–Khmer–Hoa.

Trong quá trình khẩn hoang, nhân dân miền Nam đã gặp không ít khó khăn, con đường khai hóa đất đai trải qua bao thử thách, con người nơi đây phải chinh phục thiên nhiên hoang sơ và dữ dội, “Đến đây xứ sở lạ lùng/ Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh”. Công việc lập làng, gây dựng cơ nghiệp trên những mảnh đất mới xa xôi nơi xứ người quả thật không dễ dàng. Đôi lúc sức mạnh của thiên nhiên hoang dã đã khiến con người phải khiếp đảm, “Chèo ghe sợ sấu cắn chưn/ Xuống sông sợ đỉa, lên rừng cọm um”. Nhưng những mối đe dọa trên chỉ làm cho người mở đất có thêm động lực và biết quý trọng hơn công sức khai phá cần cù của mình.

Để có một Nam Bộ trù phú như hiện nay, công lao của các bậc tiền bối là rất lớn. Họ có công mở cõi, giữ làng, bám đất, đấu tranh chống kẻ thù bảo vệ làng nước. Nhà văn Sơn Nam sẽ giúp đọc giả tự hào về ý chí vươn lên của tiền nhân trước khó khăn và khắc nghiệt. Bằng tài năng, bản lĩnh sáng tạo, ông cha ta đã xây dựng Nam Bộ từ những vùng hoang sơ trở thành nơi buôn bán tấp nập với nhiều ngôi chợ lớn như ở Sài Gòn–Gia Định và Bến Nghé; thành vùng có vị trí chiến lược về quốc phòng và nơi trù phú để cung cấp lương thực cho các miền khác như An Giang và Hậu Giang xưa. Qúy độc giả cũng thấy rõ được sự lớn lao của công cuộc mở đất mà Vũ Hạnh đã có lời bàn sâu sắc là “nhịp điệu của bản trường ca-đồng thời là bản hùng ca-Nam tiến của dân tộc Việt”(*).

Ảnh minh họa. Nguồn: Baza.vn

Quá trình gây dựng quê hương mà 3 tác phẩm truyền tải không chỉ là khoảng thời gian mở đất mà còn sự tái hiện việc đối đầu giữa con người với mẹ thiên nhiên, giữa cư dân với bọn cướp và giặc ngoại xâm. Nhân dân Nam Bộ phải đứng trước sự xâm lược và sau đó chịu cai trị hà khắc của thực dân Pháp, làm cho sự nghiệp khẩn hoang của dân tộc bị đình trệ. Song song với quá trình khai hoang là thời gian thiên di dân, lập ấp, mở làng và phát triển nông nghiệp, đặc biệt là công tác trồng lúa nước đã đem lại nguồn lương thực lớn cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và Việt Nam nói chung.

Đọc ba tác phẩm của Sơn Nam, ta có dịp khám phá những địa danh mà tên gọi của chúng đôi khi ảnh hưởng từ người Cao Miên (Camphuchia ngày nay), vừa lạ lẫm, ngộ ngĩnh vừa mộc mạc và tưởng chừng chưa hề có: Xẻo Rô (An Biên-Kiên Giang), Chắc Cà Đao hay Mặc Cần Dưng (Châu Thành-An Giang), Năng Gù (Châu Phú-An Giang), Xà Tón (Tri Tôn-An Giang), Cái Răng (Cần Thơ), Cai Lậy (Tiền Giang)... Bạn sẽ bắt gặp các từ ngữ rất giản dị, mang đậm tính Nam Bộ và là ngôn ngữ nói quen thuộc của người nông dân miệt vườn: chưn, cây kiểng, bịnh, đặng… Việc trình bày khá nhiều ngôn từ thể hiện rõ nét âm hưởng địa phương miền Tây giúp cho người đọc cảm thấy thích thú và vốn từ vựng cũng phong phú thêm. Qua đây cũng cho thấy nhà văn Sơn Nam rất xứng danh với tên gọi "pho từ điển sống về miền Nam".

Qua 3 quyển sách, nhà văn Sơn Nam đã đem tri thức và vốn kinh nghiệm sống thực tế của mình để truyền tải đến độc giả-hãy biết ơn và có thái độ quý trọng, gìn giữ những giá trị vật chất và tinh thần mà ông cha ta đã để lại cho con cháu Nam Bộ ngày nay. Những giá trị tuy đơn sơ, giản dị nhưng đó lại là cả tâm huyết mà tổ tiên ta đã đổ biết bao mồ hôi, xương máu trong gần 400 năm mới gây dựng được.

Nếu bạn đọc là người con của vùng đất Nam Bộ đang xa xứ để “tha phương cầu thực”, khi đọc được những tác phẩm của nhà văn Sơn Nam chắc hẳn sẽ thấy rất nhớ quê hương – những miền quê với bao kỷ niệm giản dị, đơn sơ mà thấm đẫm cái tình sâu sắc khó quên.

Tìm đọc “Lịch sử khẩn hoang miền Nam”, “Tìm hiểu đất Hậu Giang và Lịch sử đất An Giang”, “Đất Gia Định – Bến nghé xưa và người Sài Gòn” có tại Kho mượn đọc Thư viện Đại học An Giang – tầng 3, số phân loại: 959.703. Chúc bạn đọc thu nhận được nhiều kiến thức bổ ích từ ba tác phẩm.

(*) Sơn Nam, Đất Gia Định – Bến nghé xưa và người Sài Gòn, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 2014, trang 12.

Nguyễn Văn Nhanh – DH15SU

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.