Trần Bảo Định được mệnh danh là người “kể chuyện dân gian hiện đại”. Ông như những “ Ông già Nam Bộ nhiều chuyện”, ông đã cho ra đời “những đứa con” mà mỗi cái tên của nó đều gắn chặt với đất và con người trên mãnh đất Nam Bộ xưa kia. Tập truyện ngắn “Đất phương Nam ngày cũ” của Trần Bảo Định đã góp thêm vào kho tàng văn học Nam Bộ những hương sắc mới, thông qua chính cách nhìn và cách viết của ông.

Những ấn tượng đầu tiên từ những mẫu chuyện trong tập truyện ngắn “Đất phương Nam ngày cũ” là lối hành văn mộc mạc giản dị và đặc biệt ngôn từ - khẩu ngữ - sặc mùi Nam Bộ được nhà văn sử dụng trong những câu chuyện hết sức tự nhiên, dường như từng “lời nói”  hiện lên cả trên những trang sách. Tất cả đã tái hiện lại những bức tranh miền quê như đúng cái tên của nó - “Đất phương Nam ngày cũ”. Những cô Tư, thím Bảy, bà Sáu… hiện lên một cách thật đời thường dân dã, họ “Đãi nhau cái tình thương nhau cái nghĩa” như chính tác giả đã nhận định. Những miền quê thanh bình yên ả, thanh bình bởi chính cái cảnh và cái tình quê mà họ đã rót cho nhau!

Ảnh minh họa. (TG)

Đối với người dân Nam Bộ, mỗi con vật đều mang những ý nghĩa biểu trưng nhất định đối với đời sống của họ. “Mào công mình cốc cánh trai/ Quản ngắn đùi dài gà chảng ngán ai” (Tục ngữ), đối với người dân Nam Bộ thì “Đá gà – cái thú giải khuây” là một trong những món ăn tinh thần không thể thiếu trong ngày tết. Bởi đó trở thành tục lệ để tưởng nhớ đến tả quân Lê Văn Duyệt, để tống quái những mẫu chuyện không vui đã xảy ra trong làng và cũng để nhóm thêm lửa ấm áp tình làng nghĩa xóm. “Đá gà của Tả quân không vì để giải trí, giải khuây mà vì, muốn tỏ rõ năm đức lớn trong một con gà đá: văn, võ, dũng, nhân, tín. Ngài giải thích: “Đầu có mồng như đội mão là văn. Chân mang cựa nhọn như gươm giáo, là võ. Thấy địch trước mặt xông vào, là dũng. Kiếm được miếng ăn, lập tức chia cho đồng đội, là nhân. Hằng ngày, cứ đến đúng giờ là gáy, là tín”; “ Năm đức tính đó, chẳng những giúp cho văn thần, võ tướng trong xứ mệnh trị quốc, an dân, mà còn giúp thế nhân hành xứ đúng đạo làm người…” (Đá gà – cái thú giải khuây – tr.140)

Trần Bảo Định đã thật sự tinh tế, khi ông đã tái hiện một cách sinh động lại cuộc sống của những người dân tha hương khi đến với vùng đất Nam Bộ từ những ngày đầu. Ở những trang viết của ông đã khắc họa rõ nét, đời sống của những người dân “Tứ chiếng” từ tứ phương tựu về trên vùng đất mới, họ đã sống và gắn chặt với thiên nhiên. Thiên nhiên trở thành những người bạn của họ, họ chinh phục và chiến thắng tất cả nỗi sợ “Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng ghê”. Những con người chất phác đã hòa vào thiên nhiên mà sống. Vì thế họ đã biến tất cả những gì có sẵn trên mảnh đất “Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma” này trở thành những thứ ngọt lành để phục vụ cho chính nhu cầu trong đời sống thường ngày của họ. Thiên nhiên đã hào sảng ban tặng cho người dân Nam Bộ những sản vật để nuôi dưỡng những con người cần lao trên  những mảnh đất mới. Nhưng ở họ, những người lao động chất phác ấy họ không nghĩ rằng “vật dưỡng nhơn” mà họ luôn xem đấy là những người bạn, những người ơn của họ. Nếu họ không nhớ ơn thì làm sao con cá nhỏ bé nhảy trước mũi thuyền của Nguyễn Ánh lại mang tên “cá Linh”? Tương truyền “Lúc Nguyễn Ánh từ Vàm Nao chuẩn bị ra biển, phát hiện vài con cá nhỏ nhảy vào mạn thuyền, ông linh cảm như có việc chẳng lành nên liền ra lệnh cho đoàn tùy tùng hoãn chuyến đi. Nhờ vậy cả đoàn thuyền thoát nạn do quân Tây Sơn mai phục. Để tỏ lòng tri ân một loài cá đã cứu mình, Nguyễn Ánh liền đặt cho chúng là “cá linh” (Con cá rong chơi sông nước Cửu Long – tr. 45).

Đời sống của người dân Nam Bộ từ những ngày đầu khai hoang mở cõi, đã được Trần Bảo Định tái hiện lại một cách cụ thể, ông đã kể lại cho bạn đọc về sự phong phú trong chính đời sống của người dân Nam Bộ thông qua những món ăn hàng ngày của họ. “Bánh giá chợ Giồng, mắm cồng Phú Thạnh” cứ vào Tết Đoan Ngọ hằng năm, còng đỏ lại mở “Hội còng lột vỏ” để trả nợ ân tình và sau đó biến thành con mắm. Mắm còng đã trở thành hương vị của tình quê hương xứ sở “Còng là món ăn thắm da đỏ thịt và chắc xương cho kẻ bần hàn, là nguồn thu nhập cho người cơ nhở” (Hương quê nội – tr.107). Người dân Nam Bộ luôn sống “có trước có sau”, họ sống “ân nghĩa”, vì thế trong mỗi món ăn đời thường của họ cũng mang ý nghĩa là một vật biểu tượng về lòng biết ơn đối với những người đời trước. Ví như món cốm dẹp – mang hương vị thôn dã “Hằng năm xong vụ mùa gặt, mọi người hớn hở, nô nức chờ đợi cúng “Thần Trăng” bằng lễ vật cốm dẹp nàng Quớt, vào ngày rằm tháng Mười như một biểu tượng tạ ơn và cầu mưa thuận gió hòa” (Gạo nếp quê chồng – tr.149). Trần Bảo Định đã đi vào khai thác nhiều góc khuất trong đời sống của người dân Nam Bộ. Những món ăn hằng ngày trong đời sống của người dân còn mang đạo lý về cách sống ở đời. Món “cá linh hấp mía” mang đậm mùi nhớ, thông qua câu hỏi ngây thơ của nhân vật tôi, khiến mọi người phải suy ngẫm “Sao không kho mà lại hấp”. Bởi một lẽ “hấp - ngữ nghĩa đậm chất chia sẻ ngọt bùi, mấy ai phủi đít quên lúc đắng cay! Kho, nói lên sự áp chế khắc nghiệt nhau, thiên hạ sẵn sàng muối mặt dù tiếng đời bia miệng” (Con cá rong chơi sông nước Cửu Long – tr.40). Tưởng rằng “Cá kho cá hấp” là câu nói hời hợt của những người dân “Tứ chiếng”, nhưng khi biết rõ nguồn gốc thì mới biết rằng nó mang theo cả cái đạo lí về cách sống của họ.

“Đất phương Nam ngày cũ” đúng như cái tên của nó, Nhà văn Trần Bảo Định đã nhắc nhớ lại cho chúng ta về nguồn gốc của biết bao “miền đất hứa” từ thuở khai hoang. Những địa danh, những cái tên đất được người dân đặt dựa trên đặc tính tự nhiên của nó, hay cũng có thể được Chúa Nguyễn ban cho trên đường bôn tẩu. Rừng bần bạt ngàn, thế địa sông Ba Thắc “Lội không tới bờ, lặn không tới đáy” đã cứu Nguyễn Ánh thoát khỏi cái chết trước quân Tây Sơn. Để tưởng nhớ đến vùng đất đã cứu mình thoát nạn, Nguyễn Ánh đặt tên cho khu rừng ấy là rừng “Thủy Liễu” để thầm cảm tạ nàng tiên đã đến trong mơ cứu Chúa thoát khỏi cái đói; đặt tên cho đầm nước ngọt cứu khát cho cả đoàn quân là “Đầm Tiên” và con rạch hoang nơi Ánh từng lẩn trốn là rạch “Long Ẩn” (Thắt lòng Ba Thắc). Những địa danh đôi khi ra đời còn dựa trên những câu chuyện truyền thuyết thương tâm. “Nàng Chanh hay Nàng Quớt và theo truyền thuyết xưa, nàng vốn là cung phi giam má hồng trong hoàng cung vua Thủy Chân Lạp. Một đêm nàng trốn theo trăng mong thoát “phận má hồng”. Vua Thủy Chân Lạp nộ khí xung thiên, truyền cho thủy binh dong thuyền rượt theo giết cho kỳ được. Bất chợt mây che trăng, nàng mất lối chạy ra biển và đành tạm dừng nơi giáp nước, chỗ mô đất gò để nấu cơm. Gạo chưa chín thành cơm, thuyền quan binh rượt nà tới, nàng tiếp tục chạy và bỏ lại nồi cơm sống; dọc đường nàng chạy trút bỏ tất cả các tư trang. Khi trăng vén được mây thì nàng đã đuối sức và cùng đường. Không một lời oán hận, nàng nhìn trăng ứa lệ. Những mũi giáo oan nghiệt của quan binh đã đâm thủng trái tim nàng, từng giọt máu rớt xuống mặt sông loang loáng ánh trăng. Sau này, nơi con sông nàng chết, người đời gọi là vàm nàng Chanh, lâu ngày nói trại thành Mỹ Thanh. Nơi nàng bỏ nồi cơm sống, gọi Bay Chau, lâu ngày nói trại ra Bãi Xàu. Chỗ liệng cái ống nhổ bằng vàng gọi là Cần Tho, lâu ngày nói trại thành Dù Tho” (Gạo nếp quê chồng – tr. 150, 151). Những tên đất không những gắn liền với những câu chuyện lịch sử, những truyền thuyết mà nó còn là những tình cảm của người dân tứ phương đặt cho vùng đất mới của mình!

Tập truyện ngắn “Đất phương Nam ngày cũ” thật sự đã đưa bạn đọc về với vùng đất Nam Bộ xưa kia. Tập truyện ngắn chỉ vỏn vẹn 20 câu truyện, nhưng ở đấy tác giả đã cho ta thấy tất cả những cái tính – cái tình của những người dân Nam Bộ đã dành cho nhau trong đời sống hằng ngày. Bởi chính cái tính – cái tình đó đã làm nên những “miếng ngon – miền nhớ”, những đặc sản làm rạng danh những vùng đất. Và những vùng đất đã làm rạng danh con người trong thuở đầu đi khai hoang mở cõi!

Đỗ Quyên – DH16NV

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.