Việc sử dụng quá nhiều phân hóa học và các loại thuốc bảo vệ thực vật đã gây ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái và cộng đồng. Theo ước tính thì 50% lượng phân bón được sử dụng, 50% còn lại bị bay hơi, rửa trôi và đây là nguyên nhân gây ô nhiễm không khí, đất. Lượng thuốc hóa học sử dụng không hợp lý dẫn đến tình trạng kháng thuốc của sâu, bệnh hại, tồn dư trong sản phẩm, điều đó ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của người, vật nuôi và môi trường sinh sống (Phạm Thị Thùy, 2013).

Nhiều nước phải tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo khuynh hướng sạch, mà cao hơn đó là sản xuất nông nghiệp hữu cơ, trong đó có Việt Nam. Theo Liên đoàn Quốc tế các phong trào canh tác nông nghiệp hữu cơ thì“Nông nghiệp hữu cơ là hình thức nông nghiệp tránh hoặc loại bỏ phần lớn việc sử dụng phân bón tổng hợp, thuốc trừ sâu, các chất điều tiết sự tăng trưởng của cây trồng, và các chất phụ gia trong thức ăn gia súc” nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, đảm bảo sức khỏe cho người sử dụng và tạo ra sản phẩm sạch. Trong các hệ thống nông nghiệp hữu cơ thì PGS là hệ thống dễ đạt được nhất và rẻ tiền nhất cho quy trình chứng nhận sản phẩm, điều này làm PGS phù hợp với nhóm nông dân có diện tích canh tác nhỏ và ít vốn đầu tư.

Bài viết này sẽ giới thiệu về mô hình sản xuất rau hữu cơ PGS tại Bến Tre, như một kênh thông tin để bạn đọc cùng tham khảo.

PGS là gì?

PGS là viết tắt của Participatory Guarantee System, có nghĩa là Hệ thống đảm bảo cùng tham gia. Theo IFOAM thì PGS là hệ thống đảm bảo chất lượng nội bộ. Hệ thống này chứng thực cho người sản xuất dựa trên sự tham gia tích cực của các bên liên quan: người tiêu dùng, công ty phân phối, cơ quan quản lý nhà nước… và được xây dựng trên cơ sở sự tin cậy, các liên kết xã hội và trao đổi tri thức.

PGS như một dạng chứng nhận tự nguyện, các điều kiện quy định về sản xuất, sơ chế, đóng gói tiêu thụ đều phải tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật theo luật an toàn thực phẩm. PGS phù hợp với với điều kiện sản xuất quy mô nhỏ, vì nó huy động được sự tham gia của các cá nhân cho chuỗi giá trị để tạo dựng và củng cố niềm tin vào chất lượng sản phẩm.

Vườn rau hữu cơ của nhóm nông dân tham gia hệ thống sản xuất PGS tại huyện Ba Tri

Nhận định về PGS

Nông nghiệp hữu cơ PGS là một hệ thống sản xuất khép kín từ đầu vào sản xuất đến đầu ra tiêu thụ sản phẩm. Tất cả các yếu tố đầu vào của hệ thống đều được kiểm soát chặt chẽ nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm tạo ra phù hợp với yêu cầu của hệ thống. Bên cạnh đó, hệ thống PGS còn cho thấy tính cộng đồng trong quá trình sản xuất, hệ thống gồm nhiều nhóm khác nhau, mỗi nhóm là một nhiệm vụ, tuy nhiên các hoạt động đều có tác động qua lại cho nhau và phải đảm bảo được tính minh bạch cho các thành viên trong hệ thống, kết quả cuối cùng hướng đến của hệ thống là tạo ra được sản phẩm có chất lượng không ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.

Hệ thống PGS ngày càng được mở rộng về qui mô, từ miền Bắc vào miền Nam, từ sản xuất các loại rau màu đơn giản như các loại rau ăn lá sang sản xuất các loại rau phức tạp, nhiều kĩ thuật hơn như cây ăn trái, cây ăn củ và cả cây lúa. Đây là hệ thống ngày càng được cộng đồng quan tâm, đầu tư nhiều hơn, đồng thời thị trường tiêu thụ cũng ngày càng được mở rộng, mức độ tin tưởng của người tiêu thụ vào hệ thống cũng nhiều hơn trước.

Để ứng dụng hệ thống PGS thành công, ngoài việc đảm bảo các điều kiện tự nhiên phù hợp thì cần có sự nhiệt tình tham gia của người dân và sự hỗ trợ hết mình của chính quyền địa phương. Tuy nhiên, sau khi ứng dụng hệ thống để hệ thống trở thành nguồn cung cấp sản phẩm đúng chất lượng thì người tham gia phải đảm bảo tuân thủ quy trình, tiêu chí sản xuất; đồng thời các thành viên tham gia vào hệ thống từ cán bộ, người sản xuất đến doanh nghiệp thu mua luôn phải tuân thủ các nguyên tắc của hệ thống, đặc biệt phải đảm bảo được tính minh bạch cho mọi thành viên, tránh tình trạng mâu thuẫn nội bộ.

Các nguyên tắc cơ bản của nông nghiệp hữu cơ (PGS Việt Nam)

Nông nghiệp hữu cơ là một hình thức nông nghiệp tránh hoặc loại bỏ phần lớn việc sử dụng phân bón tổng hợp, thuốc trừ sâu, các chất điều tiết tăng trưởng của cây trồng và các chất phụ gia trong thức ăn gia súc.

Các nông dân canh tác theo hình thức nông nghiệp hữu cơ dựa tối đa vào việc quay vòng mùa vụ, các phần thừa sau thu hoạch, phân động vật và việc canh tác cơ giới để duy trì năng suất đất nhằm cung cấp các chất dinh dưỡng cho cây trồng, kiểm soát cỏ, côn trùng và các loại sâu bệnh khác.

Mục đích hàng đầu của nông nghiệp hữu cơ là tối đa hóa sức khỏe và năng suất của các cộng đồng độc lập về đời sống đất đai, cây trồng, vật nuôi, và con người. Vì vậy, những nguyên tắc cơ bản trong nông nghiệp hữu cơ được trình bày vào năm 1992 bởi tổ chức Nông nghiệp hữu cơ quốc tế là:

  • Sản xuất thực phẩm có chất lượng dinh dưỡng cao, đủ số lượng.
  • Phối hợp một cách xây dựng và theo hướng củng cố cuộc sống giữa tất cả các chu kỳ và hệ thống tự nhiên.
  • Khuyến khích và thúc đẩy chu trình sinh học trong hệ thống canh tác, bao gồm vi sinh vật quần thể động vật trong đất, cây trồng và vật nuôi.
  • Duy trì và tăng cường độ phì nhiêu của đất trồng về mặt dài hạn.
  • Sử dụng càng nhiều các nguồn tái sinh trong hệ thống nông nghiệp có tổ chức ở địa phương.
  • Làm việc càng nhiều càng tốt trong một hệ thống khép kín đối với các yếu tố dinh dưỡng và chất hữu cơ.
  • Làm việc càng nhiều càng tốt với các nguyên vật liệu, các chất có thể tái sử dụng hoặc tái sinh hoặc ở trong trang trại hoặc là ở nơi khác.
  • Cung cấp cho tất cả các con vật nuôi trong trang trại những điều kiện cho phép chúng thực hiện những bản chất bẩm sinh của chúng.
  • Giảm đến mức tối thiểu các loại ô nhiễm do kết quả của sản xuất nông nghiệp gây ra.
  • Duy trì sự đa dạng hóa gen trong hệ thống nông nghiệp hữu cơ và khu vực xung quanh nó, bao gồm cả việc bảo vệ thực vật và nơi cư ngụ của cuộc sống thiên nhiên hoang dã.
  • Cho phép người sản xuất nông nghiệp có một cuộc sống theo Công ước nhân quyền của Liên Hợp quốc, trang trải được những nhu cầu cơ bản của họ, có được một khoản thu nhập thích đáng và sự hài lòng từ công việc của họ, bao gồm cả môi trường làm việc an toàn.
  • Quan tâm đến tác động sinh thái và xã hội rộng hơn của hệ thống canh tác hữu cơ.

Các nông dân sử dụng thuốc trừ sâu hữu cơ (từ gừng, ớt, rượu...) trong sản xuất rau

Quá trình thành lập mô hình hữu cơ PGS tại Bến Tre

Mô hình hữu cơ PGS tại Bến Tre được thành lập năm 2014 trong khuôn khổ dự án “Cải thiện sinh kế của hộ nông dân quy mô nhỏ bằng cách tiếp cận tốt hơn với thị trường và áp dụng nông nghiệp hữu cơ” của Tổ chức Seed to Table phối hợp với Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bến Tre thực hiện, cùng sự tham gia của phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Dự án được triển khai tiến hành tại huyện Bình Đại với 4 xã Châu Hưng, Lộc Thuận, Phú Long và Long Hòa, tuy nhiên qua 1 năm gồm 6 tháng giai đoạn thông thường và 6 tháng giai đoạn chuyển đổi toàn huyện chỉ còn nhóm Lộc Thuận được công nhận là sản phẩm hữu cơ với số thành viên tham gia trong nhóm là 5 người. Cho đến thời điểm hiện tại nhóm chỉ còn 2 thành viên với tổng diện tích 900m2.

Nhận thấy được những vấn đề xảy ra đối với các nhóm ở huyện Bình Đại,tổ chức dự án cùng Trung tâm khuyến nông đã rút ra được một số kinh nghiệm ở lần chuyển đổi tiếp theo ở huyện Ba Tri. PGS Bến Tre tại huyện Ba Tri được triển bắt đầu triển khai năm 2015, với 2 nhóm sản xuất có tổng diện tích 5000m2, đến đầu năm 2017 cả 2 nhóm sản xuất đều được công nhận hữu cơ; đồng thời dự án còn đang tiến hành khỏa sát mở rộng thêm nhóm sản xuất tại huyện Ba Tri.

Tổ chức sản xuất PGS tại Bến Tre

Các nhóm tham gia sản xuất được đội ngũ kĩ thuật tập huấn xuyên suốt quá trình chuyển đổi. Trong quá trình canh tác này, họ không sử dụng bất kỳ phân, thuốc bảo vệ thực vật nào mà thay vào đó họ canh tác theo mọi kỹ thuật và tiêu chuẩn của tổ chức chuyển giao. Tuy nhiên, sản phẩm trong giai đoạn này không được sử dụng như sản phẩm sạch mà chỉ được tính như các sản phẩm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Họ tự tìm đầu ra cho sản phẩm của mình. Chính vì thế, đây được xem như là giai đoạn thử thách khắc nghiệt trong toàn bộ quá trình chứng nhận do năng suất giảm sút, giá cả như cũ. Sau giai đoạn này, Ban điều phối tiến hành thanh tra lấy mẫu đất, nước để phân tích và chọn lọc lại những người đạt yêu cầu để tiếp tục phần tiếp theo của quá trình chứng nhận. Thông thường, sau thời gian 6 tháng thì sản phẩm do các nhóm sản xuất này tạo ra sẽ được chứng nhận là sản phẩm chuyển đổi được ghi nhận trên bao bì sản phẩm, lúc này giá cả sản phẩm đã được cải thiện, các doanh nghiệp đăng kí tham gia ban đầu cùng hệ thống cũng bắt đầu thu mua các sản phẩm chuyển đổi này.

Sau thời gian chuyển đổi, nếu các nhóm đủ điều kiện sẽ được chứng nhận là sản phẩm hữu cơ, được cấp giấy chứng nhận, có bao bì sản phẩm cụ thể cho từng thành viên nhóm. Trong quá trình sản xuất thì giữa các thành viên nhóm tiến hành thanh tra chéo với nhau và cử đại diện cùng với nhóm điều phối thanh tra các nhóm rau hữu cơ khác. Bên cạnh đó, phía doanh nghiệp cũng cử người thanh tra nhằm đảm bảo số lượng và chất lượng sản phẩm không bị ảnh hưởng. Hàng tháng, các bên liên quan trong cả hệ thống mở ra các cuộc họp nhằm bàn thảo những vấn đề phát sinh và báo cáo thống kê hàng tháng để tăng tính minh bạch trong toàn hệ thống.

Bao bì rau hữu cơ PGS

Điểm đặc biệt trong mô hình hữu cơ PGS Bến Tre

Khác với các hệ thống sản xuất thông thường, thời vụ gieo trồng của các loại rau màu trong hệ thống chủ yếu theo đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, mỗi tháng các nhóm sản xuất được họp định kì một lần nhằm để báo cáo tình hình sản xuất rau mùa trong tháng vừa qua của các nhóm sản xuất, nêu ra những thuận lợi khó khăn trong một tháng canh tác qua. Đây là thời điểm để các doanh nghiệp và nông dân có cơ hội bàn về kế hoạch tổ chức sản xuất các loại rau màu trong tháng tới cũng như bàn và chỉnh sửa về giá cả các loại rau màu trong tháng để phù hợp với giá thị trường thông thường bên ngoài.

Ưu điểm nổi trội của việc áp dụng PGS trong sản xuất so với các mô hình sản xuất thông thường làgiá các loại nông sản hữu cơ luôn cao hơn nhiều so với sản phẩm sản xuất thông thường, trung bình giá được kí kết là: 20.000 – 30.000 đồng/ kg đối với rau ăn lá, từ 15.000 – 20.000 đồng/ kg đối với cây ăn trái, giá cả ít biến động hơn giá các loại sản xuất thông thường.

Kết luận

PGS Bến Tre là một mô hình tiềm năng, ngày được cộng đồng quan tâm nhiều hơn, đồng thời các sản phẩm hữu cơ ngày càng được thị trường ưa chuộng hơn. Hệ thống mang lại cuộc sống ổn định hơn cho những tham gia sản xuất, tăng khả năng làm việc tập thể cùng nhau của người nông dân, đồng thời cung cấp được cho thị trường các sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng.

Ngoài các điều kiện thuận lợi trên để áp dụng sản xuất thì hệ thống chứng nhận nông nghiệp hữu cơ trên cơ sở cộng đồng là hệ thống sản xuất hữu cơ tiết kiệm nhất cho người tham gia, đa số các quy trình chứng nhận hữu cơ chủ yếu dựa vào các nhóm trong hệ thống. Đều này cho thấy đây là hệ thống nông nghiệp hữu cơ phù hợp cho người dân chủ yếu các hộ thiếu vốn, nhưng hệ thống đòi hỏi các thanh viên tham gia trong hệ thống cần đảm bảo tính minh bạch cho toàn hệ thống

 

Tài liệu tham khảo

Đỗ Văn Công , 2015. Bến Tre có sản phẩm rau hữu cơ được chứng nhận. Cổng thông tin Bến Tre. Truy cập từ http://www.bentre.gov.vn/

FiLB and IFOAM, 2012. The World Organic Agriculture: Statistics and emerging trends 2012 truy cập từ https://shop.fibl.org/fileadmin/documents/shop/1698-organic-world-2016.pdf

IFOAM, 2008, các tiêu chuẩn sản xuất nông nghiệp hữu cơ truy cập từ http://vietnamorganic.vn/chi-tiet-tin/181/ca%CC%81c-tieu-chua%CC%89n-Pgs.html

Phạm Thị Thùy, Từ Thị Tuyết Nhung.( 2013) hệ thống đảm bảo cùng tham gia- Participattory Guarantee System, một hướng mới trong quản lý VSATTP ở Việt Nam. Bài viết được báo cáo trong hội thảo quốc gia Nông nghiệp hữu cơ thực trạng & định hướng phát triển.

Phạm Thị Thùy.(tháng 9 năm 2013). nông nghiệp hữu cơ ở Việt Nam – Hiện Trạng – Tiêu Chuẩn sản xuất và hướng phát triển.Bài viết được báo cáo trong hội thảo quốc gia Nông nghiệp hữu cơ thực trạng & định hướng phát triển.

PGS Việt Nam Quy trình chứng nhân PGS truy cập từ : http://vietnamorganic.vn

Kim Ngân - DH14PN

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.