Có lẽ với cư dân nông nghiệp như quê tôi, lúa chét chính là một đặc ân mà ông trời ban tặng. Cứ nghĩ đi, cánh đồng thu hoạch trơ trọi rồi, trời đổ xuống mấy trận mưa, bỗng mầm lúa hồi sinh cho một vụ mới đầy ngẫu nhiên hỏi ai không phấn khởi. Nhưng không phải mùa nào cũng thu hoạch lúa chét được. Thường thì khoảng cách giữa vụ đông – xuân và vụ hè – thu chỉ chừng một tháng, người nông dân phải cày ải làm đất chuẩn bị vụ sau nên không thể dưỡng rạ thu hoạch lúa chét. Chỉ khi vụ hè – thu làm xong rồi, nếu nước lên chậm thì coi như dân quê có thêm một mùa lúa nữa. 

Tùy điều kiện chăm sóc mà lúa chét sẽ cho thu hoạch trúng thất khác nhau. Có công thu hoạch gần hai chục giạ. Đến bây giờ tôi vẫn không quên những ngày cánh đồng quê người ta đi cắt lúa chét đông như hội, sân nhà ai cũng ủ đống lúa to đùng. Tiếng đập lúa ình ình khắp xóm. Và, tôi cũng không thể quên được Thúy An.

Thúy An đẹp lắm. Hai má cô lúc nào cũng ửng hồng. Hàm răng trắng tinh, có cái răng khểnh bên trái. Má lúm đồng tiền cũng bên trái luôn. Mắt thì to tròn, đen lay láy. Mi cong vút. Mái tóc dài xõa tới thắt lưng. Dáng cô không cao nhưng thân hình cân đối. Cô hay mặc bộ đồ màu hồng, áo khoác cũng màu hồng. Thúy An thường đội nón lá, có khi quấn khăn trùm mặt, chỉ chừa lại hai mắt vì trời nắng, nhưng vẫn cuốn hút lạ thường. Cô đứng trên bờ đê chiều, nở một nụ cười là dường như mặt trời cũng quên lặn, cứ rực rỡ mãi như thế.

Thúy An mười bảy tuổi, theo ba mẹ đem mấy trăm con vịt chạy đồng đến xóm tôi. Miền Tây Nam Bộ, nói vịt chạy đồng thì chẳng ai lạ gì. Bởi nhiều khi nước lên ngập đồng này nhưng các cánh đồng lân cận vẫn còn khô ráo. Người nuôi vịt phải đem vịt đến mấy cánh đồng chưa ngập vì ở đó mồi màn nhiều, tha hồ vỗ béo cho vịt. Năm đó cánh đồng quê tôi cắt xong vụ hè thu, con đập Trà Bông xả rồi mà nước vẫn chưa thấy ngấp nghé. Thế là hàng chục gia đình nuôi vịt tứ xứ đổ xô về, trong đó có gia đình Thúy An. Họ dựng trại, căng chuồng vịt dọc theo bờ kinh. Sáng sáng họ lùa vịt ra đồng cho ăn, chiều lùa vịt về chuồng. Mọi sinh hoạt ăn ở của mấy con người gói gọn trong cái trại nhỏ xíu cất sát bên chuồng vịt.

Ba Thúy An dựng cái trại vịt gần vàm kinh, cách nhà tôi chừng năm trăm thước. Chiều hôm trước dựng trại, sáng hôm sau Thúy An lùa vịt ra đồng thì tôi thấy có bốn năm thằng con trai cỡ tôi đứng trên bờ kinh dòm lom lom. Lúc đó hình như mẹ Thúy An đi chợ, còn ba của cô thì đi mị mị trong đồng để dò luồng, đề phòng mấy vạt đồng gần vịt ăn hết thì phải lùa vào đồng xa. Tôi nhớ khi ấy tôi cũng dòm Thúy An nhưng không trơ trẽn như bọn kia. Tôi giả đò xách cây cần nhấp ếch đi nhấp dọc bờ kinh, tay thì nhấp nhưng mắt lúc nào cũng dõi theo từng cử chỉ của cô gái chăn vịt đồng xinh xắn. Đến nỗi, con ếch cái già ăn mồi ghì nặng trịch mà tôi cũng quên giựt. Sẩy con ếch bự, mồi cũng hết, tôi xấu hổ như bị người ta bắt quả tang làm chuyện xấu, đành vác cần nhấp về, lòng bực bội không nguyên cớ.

Thời gian sau đó, thỉnh thoảng Thúy An có tới nhà tôi. Khi thì mượn cái dao, cái búa cho ba cô sửa trại vịt, khi thì đem qua tô canh bí, mớ đọt lang cho nhà tôi, nói là gởi ăn lấy thảo, là xứ lạ quê người có gì nhờ ba má tôi thương tình giúp đỡ. Má tôi cũng hay sai chị tôi đem qua cho nhà Thúy An mớ đậu mớ cà. Má nói người ta vì hoàn cảnh nên mới xa quê đến đây, mình giúp được gì thì giúp. Tôi thấy má đúng, nhưng cái việc đem đồ cho gia đình Thúy An thì tôi không bao giờ làm, tôi toàn lấy cớ này cớ nọ để đẩy cho mấy chị tôi đi thôi. Dù mỗi lần đùn đẩy xong rồi, lòng tôi lại tiếc ngẩn tiếc ngơ.

***

Dân quê tôi có câu Tháng bảy nước nhảy khỏi bờ, ý nói vào tháng bảy âm lịch, nước nổi ngập đồng. Đó cũng là cái “mốc” mà dân gian dựa theo để tính lịch gieo trồng và thu hoạch cho hợp lý, nếu không có thể trắng tay như chơi.

Nói là nói vậy, chớ tôi thấy nhiều khi khoảng giữa tháng sáu là nước đã tràn đồng. Những năm đó, bà con trở tay không kịp, lúa vụ hè thu chưa chín mà bị ngập hết. Có nơi nước ngập đến quá đầu người. Bỏ lúa thì đói, mà cắt thì cũng khó. Bà con đành đem lưỡi hái, bơi xuồng ra đồng cắm sào, rồi lặn xuống cắt. Cắt mãi cho đến khi nào những hột lúa bị nước làm mềm, trở thành mồi cho cá, cắt lên chỉ có trơ thân lúa mà không còn dính hột trong đó thì bà con mới nghỉ. Nói chung nếu lúa bị ngập rồi thì mười phần chưa chắc lấy lại được một phần nhưng bà con vẫn cố chắt mót theo tinh thần có còn hơn không. Nếu không cố gắng thu nhặt những hột thóc chưa đầy gạo ấy, chắc chắn năm đó cả nhà sẽ bị đói. Tôi từng chứng kiến có gia đình lặn cắt lúa từ sáng đến tối mà chẳng được bao nhiêu, năm bảy con người ướt sũng trắng bệch vì ngâm mình lâu trong nước, vừa đói vừa lạnh ngồi trên xuồng nhìn thửa ruộng mơn mởn của mình mới hôm qua nay đã thành biển nước, vừa kêu trời vừa khóc tức tưởi như đám ma. Đám ma của lúa!

Đó là những năm nước lên sớm không kịp trở tay, chớ như năm nay, đợi đến rằm tháng tám chưa thấy nước mặc dù mấy cái đập đã xả từ lâu. Bầy vịt của Thúy An được dịp ăn mồi đã đời, con nào con nấy ú quây. Ba Thúy An hay đến nhà tôi nhậu với ba tôi. Ngà ngà say ông bảo, trời thương tôi anh à, tự nhiên chạy tới cánh đồng này rồi vịt ăn hoài không hết. Nước xâm xấp kiểu này dù có năm ngàn con vịt cũng no mồi nữa chứ đừng nói mấy trăm con như tôi. Vài bữa nữa tôi bán bầy vịt này, về quê cất được cái nhà như chơi anh ơi... Ba tôi nghe, chỉ cười nhẹ, trầm ngâm không nói gì, lại rót rượu và uống. Tôi ngồi trước sân, nhìn Thúy An lùa vịt về chuồng, đôi chân nàng thoăn thoắt, dáng uyển chuyển như đang bước trên cung mây. Tôi không thể tưởng tượng được, nếu một ngày nào đó cô gái kia rời khỏi nơi này, mọi thứ sẽ ra sao.

Nước lên chậm, cánh đồng quê tôi lại được trời ban tặng cho một món quà quý, đó là lúa chét. Lúa chét còn gọi là lúa tái sinh, chúng mọc từ mầm ủ trong thân cây lúa (gốc rạ) sau khi thu hoạch vụ trước. Năm nào ít nước, cây lúa chét sẽ cho bà con thêm một vụ thu hoạch nhỏ nữa. Tùy điều kiện chăm sóc, lúa chét có thể cho năng suất từ một giạ đến cả chục giạ mỗi công. Đoán chừng nước không lên cao, bà con xóm tôi liền kéo nhau ra “bẹo cờ” mấy công đất để không cho vịt vào ăn nữa, dưỡng lúa chét. Ba má tôi cũng “bẹo cờ” đất nhà, lại mướn thêm mấy mẫu trước cửa với hi vọng thu hoạch một vụ lúa chét bội thu. Nói chung trong xóm ai cũng phấn khởi. Chỉ riêng mấy gia đình nuôi vịt chạy đồng như Thúy An là rầu. Bởi lúc này nhìn đâu đâu trên đồng cũng thấy cờ bẹo trắng xóa, không biết lùa vịt đi đâu cho ăn. Ba Thúy An cũng ít tới nhà tôi nhậu như lúc trước. Thỉnh thoảng ông có ghé nhà chơi thì ba tôi cũng nói bóng gió, đại loại là mấy công đất trước cửa nhà tôi đã mua lại của người ta với giá bao nhiêu, để mai mốt cắt lúa chét như thế nào. Ba tôi nói phải canh giữ kỹ nếu không vịt vô ăn là coi như nhà tôi lỗ vốn. Tôi thấy ba Thúy An không nói gì, chỉ gượng cười rồi quay đi.

Mỗi tảng sáng, Thúy An không còn lùa vịt ngang qua cánh đồng trước cửa nhà tôi nữa, mà lùa qua con rạch phía sau hè, lùa miệt vô đồng sâu, đến tối mịch mới về. Mấy lần tôi giả đò đi cắm câu ở đồng sâu, giả đò tình cờ gặp Thúy An đang ngồi gỡ tóc rối dưới hàng cây còng rợp bóng. Tôi lân la tới hỏi Thúy An ăn cơm chưa; hỏi Thúy An lùa vịt đi xa vậy có mệt không; hỏi Thúy An sao ít thấy ba Thúy An ra đồng mà toàn là Thúy An đi... Thúy An nhìn tôi cười buồn, cái răng khểnh và lúm đồng tiền của cô làm tôi bối rối. Cô nói ba cô đang tìm thương lái để bán bầy vịt. Rằng nay mai cả nhà cô sẽ về quê bên miệt Đồng Tháp. Rằng ba cô nói chắc sẽ không nuôi vịt chạy đồng nữa, nghề này bấp bênh quá. Rằng ba cô sẽ về cất lại cái nhà, rồi ông đi làm thợ mộc. Còn cô thì ba má cũng gả sớm thôi, có mấy mối dạm lời mà ba má cô còn đang suy nghĩ... Tôi không còn nghe rõ Thúy An nói những gì sau đó nữa. Trong tôi dậy lên nỗi căm tức vô cớ. Tôi bỏ chạy ra cánh đồng trơ gốc rạ, chạy trên những vạt đê lởm chởm đất khô, lội băng qua mấy con kinh nước đục ngầu. Tôi không biết tôi đang chạy đi đâu. Tới khi hai bàn chân tôi tóe máu, tôi mới nằm vật xuống một đống rơm và khóc như đứa trẻ. Đến giờ tôi vẫn không hiểu tôi khóc vì cái gì.

***

Rồi cũng tới ngày lúa chét chín, cả nhà tôi kéo nhau đi cắt. Mỗi người được trang bị một cái thau bự, buột dây vào eo ếch kéo theo, cắt được nắm lúa nào thì bỏ vào thau, đầy thau thì đem trút vô bao để trên bờ mẫu. Thường thì má tôi và mấy chị cắt, tôi làm nhiệm vụ đổ lúa vào bao, rồi vác về ủ một đống cao như đống rơm trước sân nhà. Cắt chừng ba ngày thì cả nhà tôi lại dành ra một ngày để đập lúa. Hột lúa chét dính vào thân chắc hơn hột lúa thường. Do vậy mà chúng tôi phải đập cật lực bằng khúc tre to. Đập mỏi quá thì vò, thì đạp, hết mỏi lại đập tiếp. Lúa đập xong má tôi phơi rồi giê lại, sau đó vô bao chất bên hông nhà. Hột lúa chét kích thước nhỏ hơn lúa thường, nhưng xay ra gạo ít gãy mà trọng suông. Nấu cơm bằng gạo chét rất thơm ngon, mềm xốp nên nhà nào cũng thích. Cả xóm tôi tập trung hết vào vụ lúa chét, dường như mọi thứ lúc này chẳng có gì quan trọng bằng. Tôi là lao động chính nên cũng dốc sức phụ giúp gia đình tôi thu hoạch cho kịp mấy mẫu lúa chét trước cửa. Cái vòng lẩn quẩn cứ cắt lúa, ủ lúa, đập lúa, phơi lúa, giê lúa, vô bao dự trữ rồi lại tiếp tục ra cắt lúa mới khiến tôi như không còn thời gian nghĩ đến chuyện gì khác. Tuy vậy, thỉnh thoảng hình ảnh Thúy An vẫn khiến tim tôi nhói lên. Những lúc như thế, tôi càng làm việc dữ dội hơn. Tôi muốn hơi thở mình mạnh thêm, mồ hôi chảy nhanh hơn để xô đẩy hình bóng Thúy An khỏi tâm trí.

Nhiều lần bưng lúa cho tôi đập hoặc đứng giê lúa, má tôi cũng hay nhắc đến Thúy An. Má nói, hôm rồi ba Thúy An qua nhà tôi chơi có bảo là đã chọn được một mối cho cô rồi, chắc tết này gả. Má Thúy An khen bên chồng tương lai của cô khá giả lắm, nhà có cả chục công đất, cô lấy người ta thì không còn vất vả nữa. Tôi giả vờ như không để ý gì tới những lời má nói, nhưng không hiểu sao lòng tôi như lửa đốt. Tôi nắm chặt thanh tre như muốn bóp vụn nó ra, tôi đập từng nhát thật mạnh xuống đống lúa. Mồ hôi túa ra như tắm. Tôi biết rồi sớm muộn gì Thúy An cũng sẽ về quê và lấy một chàng trai nào đó. Tôi biết Thúy An không thuộc về nơi này. Tôi biết...

Ảnh minh họa. Nguồn: baomoi.com

Một buổi chiều nọ, khi đang loay hoay trút mấy thau lúa vô bao định vác về trước khi trời tối thì tôi thấy Thúy An đi lại. Cô thông báo với tôi rằng ngày mai thương lái tới mua bầy vịt của cô, gia đình cô cũng sẽ nhổ trại về quê. Cô nói thêm mấy lời nữa nhưng giọng nghèn nghẹn khiến tôi không nghe được, rồi cô nhét vô tay tôi vật gì đó và chạy về phía đồng. Tôi đứng lặng thật lâu, chẳng biết nên làm gì. Cánh đồng bỗng chốc ngập ngụa bóng tối. Tôi khụy xuống dựa vào bao lúa, nước mắt tôi trào ra. Thúy An tặng tôi chiếc khăn tay trắng tinh nhưng khi tôi mở ra thì bùn đã lấm lem gần hết. Là do bàn tay tôi vốn đã lấm bùn.

Rồi cánh đồng lúa chét cũng chỉ còn trơ gốc rạ. Ba Thúy An đã nhổ trại vịt từ lâu. Ngày cô và gia đình trở về quê, tôi trốn miệt trong đồng. Lúc tối về nhà nghe má tôi nói Thúy An có tới chào tạm biệt nhà tôi. Cô có hỏi thăm tôi nhưng má không biết tôi đi đâu mà chỉ. Tôi bảo, mỗi năm có mấy chục trại vịt tới cánh đồng này, hơi đâu mà bận lòng má ơi. Nói là nói vậy, nhưng tôi buồn lắm. Tôi tự trách mình sao lúc sáng không ở nhà, ít nhất là còn được gặp Thúy An một lần nữa. Nhưng lúc này có trách thì cũng không còn kịp nữa rồi.

Trại vịt cuối cùng đã nhổ đi mấy ngày nay. Trên nền đất còn sót lại vài lỗ cọc sâu hắm như vết thương chưa lành miệng. Mấy bãi đất dọc bờ kinh vẫn còn hằn rõ dấu chân vịt, cứt vịt lông vịt vương vãi khắp nơi, bốc mùi hôi tanh thật khó chịu. Thế nhưng, có vẻ dân xóm tôi chẳng còn ai để ý đến. Mọi người còn mãi cuốn theo niềm vui của một vụ chét bội thu. Nhà tôi năm đó cũng trúng lớn. Tự nhiên được mấy chục giạ lúa trên trời rơi xuống đâu phải chuyện dễ, má tôi nói thế. Má còn nói, phải chi năm nào cũng được một mùa lúa chét như vầy thì dân tình bớt khổ. Ba tôi cãi lại, bảo lâu lâu một mùa thì được, chứ mùa nào nước cũng cạn queo như năm nay, đất đai không được phù sa bồi đắp thì lấy gì mà trồng trọt.

Đó là mùa lúa chét cuối cùng ở cánh đồng quê tôi. Mấy năm sau, năm nào nước cũng lút đầu, có khi cắt lúa vụ hè thu còn muốn không kịp. Rồi người ta bao đê thâm canh tăng vụ, trồng lúa và hoa màu đan xen nhau, chỉ lâu lâu mới xả đê một lần cho đất đai được tắm táp. Tôi cũng không gặp lại Thúy An lần nào nữa, dù năm nào tới mùa nước đổ tôi cũng dõi mắt theo mấy ghe chở vịt chạy đồng. Có mấy lần tôi lặn lội qua miệt Đồng Tháp, giả bộ hỏi nhà người quen để dò tìm gia đình Thúy An, nhưng vẫn vô vọng. Có lẽ Thúy An giờ đã lấy chồng, đã làm mẹ rồi cũng nên. Nhiều lúc tôi nghĩ, cô đi ngang qua cuộc đời tôi cũng ngẫu nhiên như vụ chét chợt vàng ươm khắp cánh đồng rồi mãi mãi tìm lại chẳng thấy. Cái khăn tay Thúy An tặng ngày trước giờ tôi vẫn cất kỹ trong tủ, lâu lâu lấy ra xem. Trên nền vải trắng đã xuất hiện nhiều vệt ố vàng./.

Chí Hùng - K.Sư phạm

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.