In bài này 

Người dân Khmer là một bộ phận dân tộc trong 54 dân tộc anh em sinh sống trên mảnh đất Nam bộ của Việt Nam. Họ đã xuất hiện và sinh sống ở vùng đất mới này khá sớm và nhanh chóngthích nghi với vùng sông nước tạo nên nét đặc trưng riêng cho dân tộc mình. LOkombok hằng năm được tổ chức vào khoảng thời gian nước sông dâng cao tháng 10 âm lịch đã thể hiện tinh thần thích ứng cao với đặc điểm tự nhiên của vùng sông nước Nam bộCũng từ đó ta thấy, người dân Khmer Nam bộ hình thành nên tính cách cũng như những phong tục tập quán của mình tạo nên nét văn hóa riêng biệt, mang một màu sắc đa dạng cho người dân Nam bộ nói chung và người dân Khmer Nam bộ nói riêng. Tuy vậy ta vẫn nhận thấy giữa dân tộc Khmer và những dân tộc khác sinh sống trên mảnh đất Nam bộ đều có những nét tương đồng trong triết lý nhân sinh qua lễ Okombok.

1. Vài nét về người dân Khmer Nam bộ

Được khai khẩn muộn hơn so với đất Bắc nên Nam bộ được xem như là một vùng đất mới. Với bản sắc văn hóa đa dạng và phong phú, vùng đất này đã góp phần tạo nên nét đặc trưng riêng của vùng miền Nam Bộ. Lưu dân Việt tìm đến vùng đất này vào khoảng thế kỉ XVI và bắt đầu khai khẩn đất hoang trên nền văn hóa Óc Eo đã nằm im dưới lòng đất. Cho đến thế kỉ XVII, Nam bộ đã phát triển rất mạnh mẽ và dần khẳng định vai trò, vị thế của mình trong nước cũng như khu vực.

Đất Nam bộ được chia làm 3 vùng lớn: khu vực Đông Nam bộ, khu vực Sài Gòn – Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) và Tây Nam bộ (Đồng bằng sông Cửu Long). Trên vùng đất này có rất nhiều các dân tộc anh em cùng nhau sinh sống làm nên một vùng văn hóa rộng lớn nhiều màu sắc như: Kinh, Khmer, Hoa, Chăm, Xtiêng, Chơro, Mạ,…

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long là nơi có sông ngòi chằng chịt, hầu như những con sông là nơi tập trung và sinh hoạt chính của người dân nơi đây. Dân tộc Khmer với tính cách thích sống những nơi khô ráo, ven sông và sinh sống chủ yếu vào nghề lúa nước, hoa màu, họ thường tập trung sinh sống ở những triền đất cao ven theo sông Hậu, sông Tiền và phương tiện đi lại chủ yếu chính là ghe, xuồng, tam bản, chẹt,…Những phương tiện này là minh chứng cho sự thích nghi với môi trường sông nước của người dân bản địa. Người dân Khmer đến vùng đất Nam bộ vào khoảng thế kỉ  XII – XIII sớm hơn người Kinh chừng 2 đến 3 thế kỉ. Do đó, ngay khi lưu dân Việt tìm đến đã phát hiện người dân Khmer sinh sống vùng này khá lâu. Theo số liệu của Cục thống kê ngày 1/4/2009, tổng số người dân Khmer ở vùng Nam bộ là 1.260.000 người, sống trải dài trên 13 tỉnh thành của Tây Nam bộ[1]. Họ quần tụ tạo thành những phum, sóc ở triền đất cao và dựa vào điều kiện tự nhiên mà phát triển nghề trồng lúa nước và hoa màu. Ngoài ra, họ còn làm nghề đóng thuyền, làm diều, dệt thổ cẩm, dệt chiếu, nắn nồi, gốm cổ truyền, nấu đường thốt nốt, đan đát, làm tranh kiếng, giã cốm dẹp, đan võng,…Với tính cách ngay thẳng, thật thà, thân thiện với môi trường, người dân Khmer đã chung lưng đấu cật với người Kinh chia nhau làm ăn sinh sống. Người dân Khmer đã bắt đầu có sự trao đổi ngôn ngữ với người Kinh, họ bắt đầu học và sử dụng tiếng Việt như là một ngôn ngữ mẹ đẻ thứ hai của mình.

Người dân Khmer Nam bộ với màu da đen xám và mái tóc quăn đã tạo nét đặc trưng riêng của dân tộc mình. Đa số người dân Khmer theo đạo Phật và theo hướng Phật giáo nguyên thủy Nam tông, phái Tiểu thừa. Chùa chiền không chỉ là nơi sinh hoạt tinh thần tập thể của người dân Khmermà còn là không gian thiêng liêng tập hợp các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hóa nghệ thuật. Hơn thế nữa, mỗi ngôi chùa còn là một công trình kiến trúc mang giá trị thẩm mỹ cao. Hầu như những ngày lễ của người dân Khmer Nam bộ như: Tết Chôl Chnăm Thmây, Pithi Sen Đôn Ta, Pithi Sâm Peak Preach Khe, Đua ghe Ngo,… đều được tổ chức ở chùa. Trong các lễ hội, người Khmer mặc lễ phục của dân tộc mình như sarong và áo tầm vuông. Những người lớn tuổi thường mặc áo bà ba trắng, quần đen có khăn vắt trên vai khi đến chùa. Sau khi dâng cúng xong, họ thường tập trung trước sân chùa để xem hát Yukê, Rôbăm và vui múa Lâm thôn bên dàn ngũ âm.

Có thể thấy, người dân Khmer Nam bộ có đời sinh vật chất cũng như tinh thần gắn liền với sông nước, từ việc tổ chức sinh hoạt, làm ăn, buôn bán đến việc ca hát, nhảy múa, vui chơi, tâm linh đều gắn liền với sông nước. Vì vậy, nét văn hóa vùng sông nước đã in đậm trong đời sống của người dân Khmer, tạo nên nét đặc trưng riêng của vùng sông nước Cửu Long Nam Bộ. Trong số các lễ hội sông nước của người dân Khmer, lễ Okombok (hay còn gọi là lễ hội cúng trăng) với phần hội Đua ghe Ngo được xem như là một trong những biểu tượng của người dân Khmer Nam Bộ. Biểu tượng này đã thể hiện cả một hệ thống quan điểm của người Khmer Nam bộ về con người và những vấn đề liên quan đến cuộc sống của con người được hình thành trong chính quá trình sinh sống, phát triển của người dân Khmer Nam bộ. Trên cơ sở hệ thống quan điểm đó, ta nhận thấy được những triết lý nhân sinh sâu sắc của người dân Khmer Nam bộ qua những truyền thống văn hóa và điều kiện tự nhiên đặc thù của vùng sông nước Nam bộ.

2. Lễ Okombok của người dân Khmer Nam bộ

Cứ độ tháng mười âm lịch hằng năm thì lưu lượng nước sông dâng lên cao. Đây là điều kiện thuận lợi cho vạn vật nảy nở sinh sôi. Những cách đồng lúa chín vàng được bà con thu hoạch, sau đó chuyên chở trên những chiếc chẹt, ghe, vỏ...dọc theo con nước lớn về nhà. Để bày tỏ lòng biết ơn sau một vụ mùa bội thu,người dân Khmer Nam bộ dâng cúng sản vật của mình lên mặt trăng, đức Phật và nônức chuẩn bị cho lễ hội Đua ghe Ngo. Lễ Okombok được chia thành hai phần lớn: phần lễ cúng trăng Pithi Sâm Peak Preach Khe và phần hội Đua ghe Ngo.

2.1. Lễ cúng trăng – Pithi Sâm Peak Preach Khe

Theo như Phật lịch Nam tông, đến ngày 15 tháng Koder tức là tháng mười âm lịch thì người dân Khmer Nam bộ sẽ tổ chức lễ cúng trăng (Pithi Sâm Preach Khe). Đây được xem là một nét văn hóa đặc sắc của người dân Khmer Nam bộ. Sau một vụ mùa, những người trong phum, sóc thường tập trung lại với nhau và bày lên bàn cúng các thức như: cốm dẹp, mía, khoai, đậu, trái cây cùng với một cặp đèn cầy (nến) và một cặp slatho cao được trang trí đẹp mắt và lựa chọn vô cùng kĩ lưỡng. Người có uy tín nhất sẽ đại diện tiến hành khấn vái trước bàn thờ. Cuối cùng là phần nghi thức đúc cốm dẹp (Okombok có nghĩa là đúc cốm dẹp). Lễ Cúng trăng được xem là lễ quan trọng của người dân Khmer Nam bộ để cầu cho mưa thuận gió hòa, cảm ơn vụ mùa rồi và cầu cho một vụ mùa bội thu tiếp theo. Theo quan niệm của người dân Khmer thì trăng chính là chủ của mùa màng, đồng thời mặt trăng cũng là đại diện cho đức Phật theo tích Phật giáo.

Ảnh minh họa. Nguồn: dulichkiengiang

2.2. Đua ghe Ngo – Un Túk

Đua ghe Ngo là một phần hội truyền thống trong lễ Okombok của người dân Khmer Nam bộ. Giới thiệu về chiếc ghe Ngo trong lễ hội này, Phạm Thị Phương Hạnh có định nghĩa: “Ghe Ngo là một chiếc thuyền dài cong vút. Một thuyền đua có cấu tạo nhiều nét khá đặc biệt. Ghe được làm bằng gỗ tốt, có đầy đủ những tính chất của một vật dụng bơi chải chịu nước tốt, chịu được hoạt động cực kỳ mạnh mẽ linh hoạt của  trên 40 tay chèo đua. Về cấu tạo, ghe Ngo có thân dài khoảng 25m, có chiều ngang ở giữa lớn nhất tới 1,4m vuốt suôn về hai đầu chỉ còn 0,4m. Trong lòng ghe đặt ngang những thang ghế ngồi đôi từ đầu tới cuối ghe”[2]. Chiếc ghe Ngo là chiếc ghe độc mộc, ban đầu được dùng trong việc đi lại (chủ yếu là việc binh). Hình thức đua ghe ban đầu chỉ là từng cặp thuyền nhỏ đua với nhau, về sau thì được người dân Khmer Nam bộ phát triển thành một trong những lễ hội lớn trong năm.

Mỗi một chiếc ghe Ngo là đại diện cho một chùa Khmer Nam tông, cho nên chùa Khmer Nam tông nào cũng có một chiếc ghe Ngo riêng. Đến giữa tháng chín âm lịch tức là tháng Asock, thì mọi tín đồ phật giáo Khmer đều nao nức để chuẩn bị cho hội đua ghe Ngo. Những tay chèo sẽ là được chọn kĩ lưỡng trong phum, sóc đảm bảo đủ sức khỏe để có thể tham gia. Hội thi đua ghe Ngo luôn được sự quan tâm nhiệt tình của người dân Khmer Nam bộ nói riêng và cả cộng đồng cư dân Nam bộ nói chung.

Ảnh minh họa. Nguồn: toquoc.vn

3. Triết lý nhân sinh của người dân Khmer Nam bộ qua lễ hội Okombok   

Triết học Mác – Lênin đã khẳng định: “Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức”[3]. Như vậy, giữa con người và tự nhiên có sự tác động qua lại với nhau. Và sự tác động của thực tiễn sẽ khẳng định ý thức của con người. Mác cũng khẳng định: “Vật chất quyết định ý thức”[4]. Chính vì thế mà mỗi vùng miền có không gian sống khác nhau sẽ tạo ra tính cách cũng như những đặc điểm, đặc trưng của con người cho vùng miền đó. Từ đó mà ta rút ra được những hệ thống các quan điểm về con người và những vấn đề liên quan đến cuộc sống của con người đã được hình thành trong chính quá trình sinh sống, phát triển của con người. Trên cơ sở đó, chúng ta rút ra được một hệ thống triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc.

Triết lý nhân sinh người dân Nam bộ được định nghĩa: “Triết lý nhân sinh của người dân Nam bộ là hệ thống các quan điểm của người dân Nam bộ về con người Nam Bộ, những vấn đề liên quan đến cuộc sống của con người Nam Bộ, được hình thành trong quá trình sinh sống và phát triển của cư dân Nam Bộ. Đó là sự giao thoa có chọn lọc những cái sẵn có trong con người Việt Nam sinh sống ở Nam bộ với những điều kiện đặc thù riêng có của vùng đất Nam Bộ”[5]. Quá trình sống và lối sống của người dân Khmer Nam bộ chịu sự tác động từ điều kiện tự nhiên vùng sông nước Cửu Long. Sự thích nghi cao độ với môi trường sông nước đã góp phần hình thành nên tính cách, con người, văn hóa, phong tục tập quán của người dân Khmer Nam bộ. Lễ hội Okombok được xem như là sản phẩm tinh thần của sự thích nghi ấy. Lễ hội này đã thể hiệnđược một hệ thống các quan điểm, lối sống cũng như tính cách của người dân Khmer Nam bộ. Bên trong nó chứa đựng những vấn đề liên quan về nhân sinh, văn hóa và xã hội.Chiếc ghe Ngo được xem như là một biểu tượng tiêu biểu cho sự thích nghi và lối sống văn hóa tinh thần củangười dân Khmer Nam bộ. Lễ hội Okombok đã thể hiện được những vấn đề nhân sinh của người dân Khmer Nam bộ qua những tính cách, quan điểm, lối sống sau: lối sống hòa hợp với thiên nhiên sông nước, lối sống giàu tín ngưỡng và sùng mộ đạo Phật, lối sống tập thể, cộng đồng mang tính đoàn kết.

3.1  Lối sống hòa hợp với thiên nhiên sông nước

Vùng đất Nam bộ có địa hình sông ngòi chằng chịt, lượng nước lớn từ sông MêKông đổ vào hai con sông lớn nước ta là sông Hậu và sông Tiền. Hai con sông này đổ vào các kênh ngòi ao rạch, tạo thành một hệ thống sông ngòi gắn chặt tập trung vào chín cửa sông đổ ra biển Đông. Vùng đất Nam bộ được bao bọc bởi các con sông lớn nhỏ tạo thành một hệ thống sinh thái đa dạng và phong phú. Người dân Khmer đặt chân đến vùng đất mới này vào khoảng thế kỉ XII - XIII, là cư dân đầu tiên sinh sống tại vùng đất này, cho nên người dân Khmer Nam bộ đã phải vượt qua không ít khó khăn để có thể sinh tồn. Họ bắt đầu thích nghi với địa hình sông nước bằng cách chọn những nơi đất cao dọc theo hai bên bờ sông để sinh sống. Tận dụng nguồn phù sa dồi dào của những con sông, họ bắt đầu trồng lúa nước và hoa màu. Tuy nhiên địa hình sông nước cũng khiến cho việc di chuyển của người dân Khmer Nam bộ cũng gặp rất nhiều khó khăn. Họ bắt đầu sử dụng ghe, xuồng, thuyền, bè cho việc đi lại, sinh hoạt thường ngày và mưu sinh. Những phương tiện đi lại đặc thù của vùng sông nước này là một vật không thể thiếu trong đời sống của người dân Khmer Nam bộ nói riêng cũng như người dân Nam bộ nói chung. Hơn thế nữa,người dân Khmer Nam bộ đã biến chúng từ một phương tiện vật chất bình thường thành một đồ vật quan trọng trong đời sống tinh thần của mình. Đây cũng là một sự sáng tạo độc đáo trong quá trình lao động sản xuất của con người.

Ngoài chiếc ghe Ngo, thì việc tổ chức lễ cúng Okombok cũng thể hiện rất rõlối sống hòa hợpvới thiên nhiên sông nướccủa người dân Khmer Nam bộ. Việc tổ chức các lễ vật cúng bằng trái cây, nông sản mà người nông dân mới thu hoạch đã thể hiện được điều đó. Những thứ hoa quảđược bày lên bàn cúng một cách trang nghiêm, cùng với món cốm dẹp (một loại thứ ăn đặc trưng của người dân Khmer) đã làm cho lễ cúng thêm phần trang trọng. Cốm dẹp là một món ăn đặc sản kết tinh tinh hoa của điều kiện tự nhiên sông nước Nam bộ:để được những hạt cốm dẹp thơm Ngon, người dân Khmer Nam bộ đã ra sức vun trồng, thu hoạch và chế biến rất công phu. Nơi làm ra cốm dẹp cũng là nơi kết nối của những chàng trai cô gái với nhau, những thanh niên nam nữ trong phum, sóc thay nhau nhịp đập, nhịp chài để tạo ra được hạt cốm dẹp dẻo dai thơm ngon. Cốm dẹp không chỉ là món ăn đời thường, mà còn mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc đối với người Khmer Nam bộ.

Như vậy, sông nước là nơi diễn ra nhữnghoạt động sinh hoạt đời thường và còn là nơi người dân Khmer Nam bộ tổ chức các hoạt động sinh hoạt tinh thần, hoạt động nghệ thuật. Họ đã thích nghi với địa hình sông nước một cách linh hoạt và có sáng tạo trong quá trình lao động sản xuất để đáp ứng nhu cầu của mình trong quá trình sinh sống và phát triển cộng đồng xã hội. Có thể nói lối sống hòa hợp, bình dị và sáng tạo với thiên nhiên sông nước đã chỉ ra được hệ thống giá trị và trình độ phát triển của người dân Khmer Nam bộ.

3.2 Lối sống giàu tín ngưỡng và sùng mộ đạo Phật

Tín ngưỡng là một phương diện đời sống tâm linh của con người, là một niềm tin có hệ thống và tín ngưỡng còn thể hiện ý nghĩa và giá trị của cuộc sống bền vững. Đứng trước thế giới khách quan, con người cảm thấy mình thật sự nhỏ bé đối lập với thiên nhiên hùng vĩ. Họ tin vào những thứ có thể bảo vệ được mình và cung ứng những tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của bản thân. Cũng như bao dân tộc khác sinh sống trên đất nước Việt Nam, người dân Khmer Nam bộ có một đời sống tín ngưỡng đa dạng, phong phú và nhiều màu sắc.

Việt Nam là một đất nước nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa, khai thác tự nhiên là lối sống lâu đời của người người Việt Nam. Chính vì sự gắn kết giữa thiên nhiên và con người đã tạo nên một đời sống tín ngưỡng vô cùng đa dạng và phong phú. Người dân Khmer Nam bộ có đời sống sinh hoạt và lao động sản xuất gắn liền với nông nghiệp, họ có những tín ngưỡng thờ thần đặc trưng và nhiều màu sắc.

Lễ hội Okombok với phần hội đua ghe Ngo đã minh chứng cho việc người dân Khmer có đời sống tâm linh với lối sống tín ngưỡng thờ thần mang màu đặc trưng và riêng biệt. Khi bắt đầu những trận mưa đầu mùa từ đầu tháng năm âm lịch, trước khi lễ hội Okombok diễn ra thì người dân Khmer Nam bộ tiến hành nghi lễ cầu an (Bon Kâmsan). Lễ cầu an nằm trong chuỗi những nghi lễ nghi thức của lễ hội Okombok, đây còn được gọi là lễ cầu mùa vì lễ này chủ yếu cúng hai vị thần: thần ruộng (Neakta) và thần mục súc (Arăk Veal).

Đời sống người dân Khmer Nam bộ gắn chặt với sông nước và nông nghiệp là ngành nghề lao động chính của họ. Chính vì thế mà tín ngưỡng thờ thần liên quan đến thiên nhiên thể hiện tính đặc trưng của cư dân nông nghiệp. Thần Ruộng (Neakta) là một vị thần của người dân Khmer Nam Bộ, có chức năng quản lí phum, sóc, bảo hộ gia đình và cai quản ruộng. Thần mục súc (Arăk veal) là vị thần cai quản, bảo hộ gia đình, phum, sóc cũng như mùa màng. Hai vị thần trong tín ngưỡng dân của người dân Khmer Nam bộ đều có liên quan đến nông nghiệp, sông nước và gia đình. Chính sự tác động của không gian sống và thiên nhiên đã sinh ra những tín ngưỡng gắn liền với cuộc sống thường nhật của người dân Khmer Nam bộ. Lối sống giàu tín ngưỡng cũng thể hiện sự thích ứng linh hoạt của người dân Khmer Nam bộ trước thiên nhiên. Chính từ thực tiễn cuộc sống cũng như lao động sản xuất đã sản sinh ra những giá trị tinh thần mang màu sắc riêng của người dân Khmer Nam bộ.

Tín ngưỡng thờ thần đa dạng của người dân Khmer Nam bộ cũng thể hiện lòng biết ơn sâu sắc đối với những bậc thần thánh đã ban phước cho mùa màng bội thu (Lễ cúng Okombok hay còn được gọi là lễ tạ ơn). Tháng mười âm lịch là lễ cúng tạ ơn nhằm dâng những nông sản lên cho các vị thần thánh và đức Phật để bày tỏ lòng biết ơn và cầu xin cho một vụ mùa tiếp theo được bội thu. Sau đó là nghi lễ cúng trời – đất – nước, ba tác nhân chính ảnh hưởng đến mùa lao động sản xuất. Họ quan niệm cúng trời để trời ban mưa, cúng đất để đất màu mỡ, cúng nước để có nguồn phù sa và đủ nước để canh tác. Từ những điều thiết thực đó trong cuộc sống thường nhật đã hình thành nên những nét riêng độc đáo trong tín ngưỡng của người dân Khmer Nam bộ. 

Bên cạnh tín ngưỡng thờ thần thì trong hội thi Đua ghe Ngo ta còn nhận thấy tín ngưỡng vạn vật hữu linh. Để có thể hoàn thành một chiếc ghe Ngo hoàn chỉnh phải trải qua rất nhiều lễ nghi thiêng liêng và phức tạp. Chiếc ghe Ngo được người dân Khmer Nam bộ xem là một linh vật thiêng liêng, mọi việc liên quan đến chiếc ghe Ngo đều phải làm lễ cầu xin. Để có được chiếc ghe Ngo, họ phải làm lễ Cửa rừng xin cây làm ghe, và mời thần cây về làm thần ghe. Tiếp theo đó là lễ Khởi công làm ghe Ngo. Sau khi hoàn thành thì đến lễ Khánh thành để đưa ghe lên Nhà ghe. Khi đến hội thi thì tiếp tục làm lễ Xuống ghe để luyện tập, trước khi xuất phát đến hội thi thì làm lễ Xuất ghe đi dự hội, khi đến hội thi thì làm lễ Xuất phát trước cuộc đua, tiếp đến là lễ Lên ghe. Khi dự hội thi xong thì tiếp tục làm lễ Lên Nhà ghe để cho năm sau tiếp tục thi đấu. Mỗi lễ như vậy đều có những qui định cụ thể riêng biệt và trang trọng. Từ đó cho thấy chiếc ghe Ngo mang một phần hồn linh thiêng đối với người dân Khmer Nam bộ. Có nhiều tích xoay quanh đến hội thi đua ghe Ngo: có tích nhắc đến sự tích nàng Neang Chanh nhằm nhắc nhớ quá khứ, có tích nhắc đến việc chở sư và lương thực qua các phum, sóc và có tích gắn chặt với Phật giáo khi chiếc ghe Ngo mang biểu tượng của rắn thần Naga.

Chiếc ghe Ngo được người dân Khmer Nam bộ xem là linh vật thiêng liêng mang hồn của rắn thần Naga gắn liền với sự tích đức Phật Thích ca, cho nên chiếc ghe Ngo gắn chặt với đạo Phật. Đỉnh đầu chiếc ghe Ngo là hình dáng đầu của đầu rắn thần với một chiếc sừng hướng thẳng về phía trước, phần thân ghe là các họa tiết được tô vẻ công phu mang hình dáng của thân hình con rắn khi đang lướt sóng, phần đuôi thuyền cũng là phần đuôi rắn.

Việc hình thành nên một biểu tượng đại diện cho một cộng đồng người, một dân tộc là cả một quá trình với bề rộng của không gian và chiều dài của thời gian, từ sự nâng cấp đời sống vật chất thành lối sống tinh thần. Chiếc ghe Ngo chính là biểu tượng của người dân Khmer Nam bộ, cũng đã trải qua quá trình dài để trở thành một biểu tượng, tượng trưng cho người dân Khmer Nam bộ. Chiếc ghe Ngo được hình thành từ trong thực tiễn lao động sản xuất, thể hiện sự thích nghi với việc đi lại, thích ứng với thiên nhiên vùng sông nước. Vùng đất Nam bộ là vùng đất của sông ngòi chằng chịt, dưới sông sấu lội, trên rừng cọp tha, nên người dân Khmer Nam bộ đã thổi phần hồn thiêng liêng vào chiếc ghe Ngo để xua đuổi những loài vật hung dữ dưới sông như cá sấu, rắn hay thậm chí là những loài cá lớn. Con người cảm thấy mình thật sự quá nhỏ bé trước thiên nhiên rộng lớn, cho nên tín ngưỡng, tôn giáo là một chỗ dựa để tiếp thêm nghị lực giúp họ vươn lên trong cuộc sống.

Đời sống tâm linh là một phần của đời sống tinh thần, bên trong đó với các phương diện như tín ngưỡng hay tôn giáo. Nó mang những giá trị tinh thần sâu sắc ảnh hưởng đến đời sống thực tại và tạo nên một hệ thống kinh nghiệm sống phong phú cho hậu thế nối để tiếp tục sinh sống và phát triển trên chính mảnh đất Nam bộ. Lối sống giàu tín ngưỡng và sùng mộ đạo Phật của người dân Khmer Nam bộ đã tác động mạnh mẽ vào quá trình sinh sống của người dân nơi đây, tạo thành một hệ thống các qui tắc khi đối diện với thực tiễn xã hội. Từ không gian sông nước với những nhu cầu thiết thực sinh hoạt thường ngày được người dân Khmer Nam bộ thích nghi và trên đó là sự sống tạo thành đời sống tinh thần phong phú và đa dạng, mang nét đặc trưng riêng biệt. Chính vì thế mà ta nhận thấy được triết lý sống giàu tín ngưỡng và sùng mộ đạo Phật của người dân Khmer Nam bộ trên cơ sở lối sống rồi dần dần hình thành nên những tập tục và cuối cùng là nâng cao lên thành những nét văn hóa.

3.3  Lối sống tập thể, cộng đồng mang tính đoàn kết

Đua ghe Ngo là một trò chơi mang tính tập thể cao, đông nhất có thể lên đến 60 người, được chia làm nhiều bộ phận với chức năng khác nhau. Có khoảng 18 con dầm ngồi bơi, 20 con dầm quỳ bơi, 8 con dầm nhún bơi, 3 con dầm lái. Để có thể điều khiển được chiếc ghe dài khoảng 25m các con dầm phải nỗ lực rất cao và học hỏi nhữngkinh nghiệm được truyền lại qua nhiều thế hệ.

Người dân Khmer Nam bộ có tinh thần tập thể cao, được thể hiện qua hội thi đua ghe Ngo. Tất cả người dân tập hợp lại ở các ngôi chùa của phum, sóc mình để tham gia tập luyện cho hội thi. Các thanh niên trên 30 tuổi thường được lựa chọn kĩ lưỡng để có đủ sức khỏe đua đường dài còn người phụ nữ chăm lo hậu cầnvà cổ vũ, động viên tinh thần cho những con dầm. Việc chuẩn bị cho một mùa lễ hội khá là công phu, cho nên mọi người trong phum, sóc là thiện nam tín nữ của chùa đều được phân công việc để có một mùa lễ hội đầy thiêng liêng và vui nhộn. Trong cuộc đua ghe, những con dầm dùng sức lực của bản thân hòa chung với sức mạnh của đồng đội kết hợp với sự chỉ huy lão luyện đầy kinh nghiệm của người đứng cầm nhịp, giữ nhịp mới có thể điều khiểnchiếc ghe Ngo dài khoảng 25m lướt trên sông với tốc độ cao. Tinh thần đoàn kết của tập thể trên một chiếc ghe gho đòi hỏi bởi sự nhịp nhàng, khớp với nhau từng nhịp dầm trên sông.  Không những thế, chúng ta còn thấy đượctinh thần kính trên nhường dưới  của các tay dầm thể hiện qua việc chấp hành nghiêm túc cácchỉ dẫn chèo lái của người cầm nhịp, giữ nhịp (là những người có kinh nghiệm chèo thuyền ghe nhiều năm trên sông và có uy tín trong phum, sóc chỉ đứng sau sư sải trong chùa). Việc cả tập thể tôn trọng kinh nghiệm của người đi trước và làm theo sự chỉ dẫn của người đó đã thể hiện nên tính cách trọng lễ, nghĩa của con người nơi đây.

Việc tổ chức lựa chọn những con dầm (hay còn gọi những tay chèo) là điều vô cùng kĩ lưỡng và thông thường họ là những nam thanh niên trên 30 tuổi, lứa tuổi trưởng thành, chín chắn và có đủ sức lực cũng như sự dẻo dai để chèo lái chiếc ghe. Hình ảnh những tay chèo mạnh mẽ chèo lái chiếc ghe Ngo tượng trưng cho hình ảnhngười đàn ông sẽ gánh váctất cả những khó khăn nặng nhọc trong gia đình, rộng hơnlà trongmột dân tộc, một cộng đồng người. Người đàn ông được chọn làm con dầm còn là một điều hãnh diện cho gia đình đó, vì đây là cuộc thi thể hiện sức mạnh, sự dẻo dai.

Lễ hội Okombok với hội thi đua ghe Ngo đã cho ta thấy được lối sống tập thể mang tính cộng đồng và đoàn kết cao. Đây là dịp mọi người sống ở những tỉnh khác nhau được có dịp gặp gỡ giao lưu, buôn bán và trao đổi những kinh nghiệm lao động sản xuất cho nhau. Từ đó thể hiện sự gắn bó, gắn kết. Bên cạnh đó, lễ hội này cũng có sự tham gia của người Kinh và các dân tộc khác trên địa bàn sinh sống, từ đó thể hiện tinh thần đoàn không chỉ ở phạm vi phum, sóc mà còn ở phạm vi rộng hơn về mặt địa lý, làm nên sự gắn kết về mặt tinh thần không phân chia dân tộc, tôn giáo của người dân Khmer Nam bộ, là sự khẳng định triết lý:cùng chung sống để khẳng định bản thân.

4. Kết luận

Lễ hội Okombok đã thể hiện các triết lý nhân sinh rất sâu sắc của người dân Khmer Nam bộ, đó là lối sống hòa hợp với thiên nhiên sông nước, lối sống giàu tín ngưỡng và sùng mộ đạo Phật, lối sống tập thể, cộng đồng mang tính đoàn kết. Qua lễ hội ta nhận thấy hệ thống các quan điểm về con người, về lối sống tạo thành nét đặc trưng văn hóa cũng như tinh thần thích nghi cao độ với môi trường tự nhiên của người dân Khmer Nam bộ. Lễ hội này đã phản ánh lịch sử vùng miền, lịch sử xã hội và lịch sử con người của người dân Khmer Nam bộ vì thế nó được xem là một nét văn hóa đặc trưng của người dân Khmer Nam bộ nói riêng, người dân Nam bộ nói chung.

Hiện nay, trong thời đại 4.0, đứng trước sự phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì việc hội nhập là điều chính yếu. Tình hình đó đặt vấn đề văn hóa dân tộc trước những biến động lớn, đứng trước nguy cơ bị hòa tan và đánh mất bản sắc của riêng mình. Vì vậy, văn hóa dân tộc có vai trò đặc biệt quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa. Nền văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa đa dạng, phong phú nhưng thống nhất, được hình thành từ 54 dân tộc anh em chung sống xen kẽ khắp dải đất hình chữ S. Nghiên cứu văn hóa Việt Nam, việc tìm hiểu nét văn hóa riêng của mỗi dân tộc đóng vai trò vô quan trọng. Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách quan trọng để  nghiên cứu và bảo tồn văn hóa dân tộc, trong đó có văn hóa tinh thần người Khmer. 

Lễ hội Okombok ảnh hưởng rất sâu rộng đến tâm thức người dân Khmer Nam bộ, trở thành phong tục, nét sinh hoạt văn hóa vô quan trọng và không thể thiếu trong cộng đồng dân cư này. Lễ hội này không chỉ là một phong tục đẹp, mang nhiều hoạt động, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhân sinh tốt đẹp đậm đà bản sắc dân tộc mà còn là bộ phận cấu thành văn hóa truyền thống dân tộc Việt Nam. Việc nghiên cứu, tìm hiểu triết lý nhân sinh qua Lễ hội Okombok góp phần gìn giữ, phát huy giá trị văn hóa tốt đẹp người Khmer nói riêng và người Việt nói chung. Hơn nữa, những triết lý nhân sinh này là công cụ hữu hiệu để nhận thức, cải tạo thiên nhiên, cải tạo con người, làm giàu đẹp hơn cho hệ giá trị nhân văn thông qua các lễ hội cổ truyền dân tộc.

Lễ hội Okombok với những quan điểm về nhân sinh quan sâu sắc đã trở thành phương châm sống và tác động vào mạnh mẽ đến văn hóa của cộng đồng người dân Khmer Nam bộ. Việc nghiên cứu tìm hiểu những triết lý nhân sinh qua Lễ hội Okombok sẽ tạo cơ sở xây dựng và phát triển đời sống văn hóa tinh thần của người dân nơi đây. Đồng thời giúp Đảng và Nhà nước đưa ra chủ trương, chính sách phù hợp để bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nhân sinh của cộng đồng người Khmer vùng Mê kông. Trong đó, biện pháp cấp bách hàng đầu là tuyên truyền, phổ biến rộng rãi lễ hội truyền thống tốt đẹp này trên nhiều kênh thông tin trong thời đại kỷ nguyên số: mạng xã hội, báo chí, quảng bá du lịch trong khu vực cũng như trên phạm vi quốc gia và quốc tế. Trách nhiệm này thuộc về mọi cá nhân, mà trước hết là cộng đồng người dân Khmer Nam bộ, tiếp đó là các Ban Dân tộc, Ban Tôn giáo, Sở Văn hóa - Thể thao Du lịch, Phòng Văn hóa …và ban ngành ấp, xã huyện có đồng bào Khmer sinh sống. Và vì vậy mà năm 2013, lễ hội Okombok đã được nâng tầm thành Festival Đua ghe Ngo đồng bào Khmer Đồng bằng sông Cửu Long. Đây được xem là một sự kiện kinh tế - văn hóa - xã hội -  du lịch nhằm tạo ra sản phẩm văn hóa đặc trưng trực tiếp phục vụ phát triển du lịch, gắn liền với bảo tồn gìn giữ và phát huy truyền thống của người dân Khmer Nam bộ.

 


[1]Phạm Thị Phương Hạnh.(2013).Văn hóa Khmer Nam bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam.  Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia, tr.8.

[2]Phạm Thị Phương Hạnh . (2013). Văn hóa Khmer Nam bộ nét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam.Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia, tr.133.

[3]Nguyễn Viết Thông. (2013). Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia, tr.111.

[4]Nguyễn Viết Thông. (2013).  Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia, tr.55.

[5]Võ Văn Thắng.(2016).Triết Lý Nhân Sinh Trong Văn Hóa Việt Nam.Hà Nội: Nxb Lý luận chính trị,tr.356.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Huỳnh Công Bá. (2015). Đặc trưng và sắc thái văn hóa vùng – tiểu vùng ở Việt Nam. Huế: Nxb Thuận Hóa.

Nguyễn Anh Tuấn. (2013). Một số vấn đề văn hóa phong tục các dân tộc ít người ở Việt Nam. Cần Thơ: Nxb Đại học Cần Thơ.

Nguyễn Viết Thông. (2013). Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin. Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia.

Phạm Thị Phương Hạnh.(2013).Văn hóa Khmer Nam bộnét đẹp trong bản sắc văn hóa Việt Nam.Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia.

Phan Hữu Dật. (1999). Một số vấn đề về Dân tộc học Việt Nam. Hà Nội: Nxb Đại học Quốc gia.

Trần Ngọc Thêm. (2014). Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ. TP Hồ Chí Minh: Nxb Văn hóa – Văn nghệ.

Võ Văn Thắng.(2016).Triết lý nhân sinh trong văn hóa Việt Nam.Hà Nội: Nxb Lý luận chính trị.

Trần Ngọc Bình. (2014). Đời sống văn hóa các dân tộc Việt Nam. TP Hồ Chí Minh: Nxb Thanh niên.

Bùi Thiết. (2015). 54 dân tộc Việt Nam và các tên gọi khác. TP Hồ Chí Minh: Nxb Lao động.

Trường Đại học Quốc Gia Hà Nội. (1998). Kỷ yếu hội thảo Quốc tế: Việt Nam học. Hà Nội: Nxb Thế giới.

Thu Giang - Minh Phụng

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.