Tối là khoảng thời gian yên tĩnh, khi mà vạn vật xung quanh tôi đang dần chìm vào giấc ngủ thì tôi vẫn còn đang một mình thức đến khuya để cảm nhận thế nào là đêm dài bất tận. Tôi thường để một cây viết, một cuốn sách dưới ánh đèn điện và một chiếc radio, rồi bắt đầu miên man theo dòng suy nghĩ của chính mình về mọi thứ từ quá khứ đến tương lai. Tôi thường rất thích viết và viết rất nhiều để trút cạn bầu tâm sự của mình, viết về mọi thứ và tai thì không quên lắng nghe những bản cải lương xưa, cũng như mọi hôm, nhưng hôm nay không hiểu mọi thứ cứ lạ lạ làm sao, khi tôi nghe trích đoạn cải lương “Đời cô Lựu” bỗng dưng trong đầu có biết bao suy nghĩ về cải lương.

Tôi nhớ lại những hôm ngồi nghe cải lương bên chiếc ti vi cùng dì dượng, xem mấy chương trình thi cải lương như: Chuông vàng vọng cổ; Bông lúa vàng,… Dì với dượng hay kể lại cái thời xửa thời xưa, cái thời mà cải lương còn thịnh hành và phát triển; khi mà tivi, smartphone không hiện hữu; khi mà những trung tâm giải trí, những buổi ca nhạc có quy mô lớn với những thiết bị âm thanh hiện đại còn chưa xuất hiện thì cái miệt sông nước hoang vu này cải lương đã gắn liền với đời sống của con người nơi đây. Đi đồng làm mệt cũng hát, chèo xuồng trên sông cũng hát, rồi khi giải trí ăn nhậu với nhau cũng hát. Nhà nhà, người người, từ người trẻ đến người già, từ người giàu đến người nghèo, ai ai cũng đều thích cải lương. Cải lương lúc này được xem là món ăn tinh thần của con người nơi đây.

Dì tôi kể: “Ngày ấy, trời chạng vạng vậy nè! Lúc đó dì còn nhỏ hễ mà nghe đoàn cải lương sắp biểu diễn là nôn lắm! Tay quơ đôi đũa ăn mấy hột cơm rồi thấy người ta ngoài đường đi nhiều mà vui quá cũng bỏ ăn chạy đi xem coi đoàn nào hát, hát tuồng gì? Cô đào nào, hát với kép nào?”. Hồi đó mấy đoàn cải lương đi bằng ghe từ vùng này đến vùng khác và điều này thì coi ra cũng hợp lí; bởi lẽ bà con ở đây công việc chính là làm nông mà nông nghiệp thì mang tính mùa vụ, có lúc thì bận rộn nhưng mà cũng có lúc nông nhàn. Đoàn cải lương đâu có ở yên một chỗ, lúc thì ở nơi này, lúc thì ở nơi khác. Việc di chuyển để mang cải lương đến với đông đảo những người mộ điệu thì thật sự cần thiết, lại còn thêm một phần nữa là do kênh rạch thì chằng chịt nên phương tiện di chuyển chủ yếu là ghe xuồng do nó có tính linh động cao. Dì tôi kể thêm: “Hồi đó nghèo lắm đâu phải như giờ, những hôm trời mưa dầm mưa dề thì có ai đâu mà đi xem, rồi đoàn không biểu diễn thì đâu có tiền mua thức ăn cho nghệ sĩ, người dân quê mình thấy mà thương có gì thì cho đó”. Đôi khi, cũng có những người mê cải lương quá rồi cũng bỏ nhà đi theo đoàn chỉ để được cất tiếng hát của mình cống hiến cho đời. Mặc dù thân phận của người nghệ sĩ phải lênh đênh trên mặt nước, sống cậy nhờ vào khán giả, có những hôm phải chịu đói, chịu rét mà có bao giờ họ than vãn về cái nghề của mình. Họ xem nó như là cái nghiệp mà tổ nghề đã ban tặng cho mình rồi ra sức nhập vai khóc khóc, cười cười đem lại những giây phút buồn, vui, lắng lòng cho khán giả.

 

Ảnh minh họa. Nguồn: nguoidothi.net.vn

    Khi tiếng nhạc cất lên, tấm màn nhung bắt đầu từ từ kéo ra thì họ phải hòa mình vào vai diễn của mình, hóa thân, trôi theo dòng cảm xúc của nhân vật rồi cười nói theo tiếng nhạc. Khán giả thì trong tâm trạng trải lòng thấu hiểu những nhân vật trong vở diễn. Cái hay của cải lương là ở giai điệu mà các nhạc cụ phát ra kết hợp với nghệ thuật biểu diễn nhịp nhàng, rồi thêm vào đó là sự uyển chuyển trong giọng hát của người nghệ sĩ. Những người nghệ sĩ sở hữu những giọng hát riêng đã để lại dấu ấn sâu đậm trong trái tim của người nghe như nghệ sĩ Lệ Thủy, Minh Vương, Thanh Kim Huệ, Bạch Tuyết,… Hễ khi nghe là biết ai hát liền! Bên cạnh đó những vở diễn nổi tiếng như Đời cô Lựu, Đêm lạnh chùa hoang, Chuyện tình Lan và Điệp,… Đã một thời vang bóng và rất được ưa chuộng, làm nên tuổi của nhiều người, của từng đoàn cải lương như Huỳnh Kỳ, Phùng Há,… Lưu diễn khắp nơi trên thế giới được nhiều người ưa chuộng vào thời đó. Cái nghề này chỉ có ai trong nghề mới hiểu, nên người nghệ sĩ họ ví cái nghề của họ như con tằm nhả tơ dâng tiếng hát cho đời, để rồi khi họ rời sân khấu thì không còn ai nhớ đến họ nếu như họ không có được cơ may để nổi tiếng như những người nghệ sĩ khác. Để khi về già họ sống một cuộc sống cùng cực nhưng đôi lúc họ cũng không quên cất lên những tiếng hát để vơi đi nỗi buồn. Rất nhiều người nghệ sĩ vì muốn gắn bó với nghề nên phải phiêu bạt rày đây mai đó làm đủ thứ nghề trong xã hội chỉ để có thêm chi phí trang trải cuộc sống cũng như để thỏa mãn niềm đam mê đối với cải lương.

  Giá trị của cải lương không dừng lại ở việc giải trí mà nó còn mang tính giáo dục sâu sắc. Những tuồng cải lương thường tái hiện lại những giai đoạn lịch sử vẻ vang, những mốc son chói lọi của dân tộc, những góc khuất của xã hội rồi đưa đến cho người xem những bài học quý giá. Cải lương giáo dục cho con người những đức tính như trung, hiếu, yêu nước, nghĩa khí, trọng tình trọng nghĩa, chung thủy,... Mà các thế hệ đi trước muốn gửi gắm qua lời ca tiếng hát truyền dạy đến cho con cháu, những thế hệ mai sau.

  Trong thời buổi hội nhập mở cửa, cải lương cũng như các thể loại nghệ thuật văn hóa nhân gian khác đang đứng trước những khó khăn đó là không có thế hệ tiếp nối; bởi lẽ nó không còn được thịnh hành như trước, một phần nghề nghiệp bấp bênh, thêm nữa là do khán giả lại ưa chuộng những giọng hát vang bóng một thời, làm cho các thế hệ tiếp nối khó mà có thể vượt qua cái bóng của những lớp người đi trước. Do đó, để cải lương không bị thất truyền thì cần lắm những nỗ lực của những người trong cuộc, trong công cuộc đổi mới cải lương cho phù hợp với thời đại nhưng vẫn giữ được cái truyền thống. Đó lại là một câu hỏi lớn đối với những người làm nghệ thuật, đòi hỏi phải đưa ra những hướng đi riêng cho mình khi mà các thể loại âm nhạc khác đang dần du nhập vào Việt Nam và giới trẻ thì dường như lại thích những thể loại nhạc theo xu hướng hay phù hợp với thời đại, bỏ qua những giá trị cổ xưa. Cải lương bây giờ mặc dù gặp rất nhiều khó khăn nhưng cải lương đâu có dễ gì bị xóa sổ như vậy; bởi lẽ cải lương đã ăn sâu vào trong máu của con người nơi đây, nó là một phần không thể thiếu trong cuộc sống văn hóa của người dân Nam Bộ, từng lớp thế hệ người này già thì người kia đứng lên để lưu giữ và bảo vệ giá trị của dân tộc để nó không bị mai một theo thời gian.

  Đối với tôi, cải lương là một giá trị văn hóa mà tôi cần phải học hỏi, tìm tòi để hiểu hơn về những giá trị mà nó mang đến cho tôi cũng như mọi người ở nơi đây. Và tôi vẫn luôn ấp ủ trong mình một niềm hy vọng là một ngày nào đó cải lương sẽ “thức giấc” và phát triển như cái thời huy hoàng của nó. Chúng ta các thế hệ tiếp nối cần phải nhận thấy được trách nhiệm của mình để gìn giữ và lưu truyền giá trị của dân tộc.

Phú Quý - DH19DL

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.