Tôi vốn không phải người An Giang. Lần đầu tiên tôi nghe đến An Giang không phải là những con số về sản lượng lương thực, là một vựa lúa của Đồng bằng sông Cửu Long trong những giờ học địa lý, cũng không phải là đặc trưng văn hóa, tôn giáo phong phú hiện diện ở số lượng chùa chiền, ở nghi lễ, lễ hội, hay ở tâm hồn chân chất, hòa đồng, hào sảng của người dân nơi ấy. Tôi tình cờ biết Giòng An Giang (của nhạc sĩ Anh Việt Thu) qua giọng hát cao vút, vang lảnh lót của nữ ca sĩ Ánh Tuyết. Vẻ đẹp lả lướt của bản nhạc luân vũ kết hợp với những hình ảnh dân dã, giản dị: “xanh xanh khóm trúc”, “nhịp cầu tre”, “cô thôn quê đang giặt yếm trên sông”…, đã để lại một ấn tượng sâu đậm về địa danh vốn xa lạ với tôi. Đọc Tự dưng mà nhớ An Giang không chỉ “xúi” tôi nghe lại bài hát cũ, lục lại kí ức để tìm kiếm những manh mối cảm xúc lần đầu, và hơn thế, là sự thể nghiệm của bản thân về thiên nhiên, con người, về văn hóa An Giang mà hơn mười năm gắn bó tôi còn dửng dưng, lạnh nhạt.

Tự dưng mà nhớ An Giang [1] là tuyển tập Thơ của trên dưới 100 tác giả nhiều thế hệ chia sẻ cảm quan của bản thân về An Giang. Tuyển tập dày hơn 250 trang, được sắp xếp thứ thự Alphabet theo tên các tác giả. Mỗi tác giả ít thì một bài, nhiều thì bốn, năm bài. Cách sắp xếp này không chỉ thuận tiện cho người biên tập, mà đối với người đọc, là cách nhanh nhất để định vị mỗi nhà thơ trong tuyển tập, nhận ra khuôn mặt tinh thần của An Giang trong lòng họ. Khác với bên ngoài trang sách, chúng ta bị mê mờ bởi muôn vàn mặt nạ, phải lai ghép, chồng lấn, loại suy,... may ra mới dò được tâm cơ của người trực diện. Đọc thơ không chỉ là đọc chữ, đọc nhịp mà trước là đọc người, sau là đọc chính mình.

Là vùng đất nổi danh “sông núi hữu tình”, “địa linh nhân kiệt” nên không nhà thơ nào trong tuyển tập không đem lòng mình trao gửi vào núi (Cấm, Cô Tô, Dài, Sam,Tức Dụp,..) và sông (Tiền, Hậu, Bình Di,..) gắn với bao nhiêu cầu, phà (Năng Gù,..), búng (Bình Thiên,...), cù lao (Ông Hổ,...). Từ góc nhìn bên ngoài, tôi biết được An Giang có bao nhiêu là địa danh thắng cảnh. Ngồn ngột trong tập thơ là tên đất, tên làng, tên sông, tên núi,… và cả tên những con người hữu danh và vô danh đã làm nên lịch sử, văn hóa vừa kiên gan vững chãi như Thất Sơn hùng vỹ, vừa mềm mại trữ tình như dòng sông lụa. Gần như tên mỗi bài thơ đều gắn liền với một địa danh. Mỗi huyện, mỗi làng đều được các tác giả giới thiệu rất chi tiết, từ địa danh đến sản vật, văn hóa đặc trưng. Thoại Sơn nổi tiếng là xứ sở của huyền thoại thuở Thoại Ngọc Hầu khai sơn lập ấp, nỗi nhớ vợ nơi phương xa mòn mỏi mà đặt tên đất là Vọng Thê, (và còn Ba Thê). Đây cũng là xứ sở của trầm tích văn hóa Phù Nam một thời phồn thịnh nay còn lưu cửu những mảnh vỡ trong di chỉ văn hóa Óc Eo. Đó là Thoại Sơn trong mắt của Hữu Nhân, Lê Huỳnh Diệu, Nguyễn Trung Nguyên, Trần Hữu Phước, Phạm Nguyên Thạch, Trần Tâm, Lê Quang Trạng,… Qua Ba Chúc, các tác giả như Trịnh Bửu Hoài, Trúc Linh Lan, Đỗ Bạch Mai, Võ Thị Kim Liên, Nguyễn Trung Nguyên, Thanh Yến,… đều chia sẻ những hình ảnh tưởng chỉ có trong phim kinh dị: “máu nhuộm dòng kênh”, “xác dập dềnh trôi sông”, “hộp sọ”, “oan hồn”, “vệt máu hình bàn tay”, “Nhà mồ Ba Chúc cao như núi/ Xương người chất cao như núi/ Tội ác diệt chủng cao như núi”,… Những hình ảnh ấy tồn tại như một biểu tượng về tội ác bạo tàn, tội ác diệt chủng, tội ác người truy đuổi người vượt qua làn ranh thú tính. Nỗi đau vẫn còn nguyên, miệng vết thương vẫn không ngừng chảy máu, nhưng mảnh đất và con người Ba Chúc lặng lẽ vượt lên mất mát, trao cho đời trái ngọt cây xanh: “Ba Chúc bây giờ đồng lúa đã xanh tươi/Đường thốt lốt ngọt lừ môi miệng” (Ba Chúc). Tịnh Biên với hình ảnh nghĩa trang dốc Bà Đắc được Trương Nam Chi, Trần Hữu Phước, Triều La Vỹ,… ghi lại không chỉ là lịch sử mất mát của bao thế hệ cha ông, mà còn là lời nhắc nhở đến thế hệ hôm nay phải giữ vững vùng đất biên giới yên bình như gửi gắm của người vào tên đất. Nhiều nhà thơ, nhiều người còn rất trẻ như Lâm Long Hồ, Trần Tâm, hoặc những nhà thơ kỳ cựu như Đỗ Viết Phương, Trần Giang Hải, Trần Thế Vinh,... cũng đều cảm phục, tự hào về người con gái anh hùng Huỳnh Thị Hưởng. Chị là biểu tượng của tinh thần ý chí của bao lớp người phụ nữ Việt Nam hy sinh tuổi xuân và sự sống để dành lấy tự do cho dân tộc, cho quê hương. Dẫu thời gian có trôi qua lớp lớp thì những người như chị vẫn hóa thân bất tử “trong đóa hoa dại bên đường/ trong một hạt sương/ trong câu chuyện người đời sau nhắc nhở”, trở thành “đóa hoa bất tử” trong kí ức, trong tâm hồn người dân Hội An nói riêng. Chợ Mới còn gây thương nhớ bởi Cù lao Giêng, câu vọng cổ, bởi hương ổi hương cam hay còn bởi ánh mắt, “dáng nhỏ eo thon” mời gọi khiến Nguyễn Văn Khánh dấy lên khát vọng “Anh muốn về Chợ Mới quê em”, Nguyễn Thanh Quang cũng được thỏa nguyện “Cùng em về Chợ Mới”.

Nếu như Tân Châu nổi tiếng với lụa lãnh Mỹ A, có người con gái Chăm đẹp dịu dàng thì Phú Tân trù phú cũng mời khách phương xa về tưởng thức bánh phồng Phú Mỹ và lay động lòng người bởi lối buồn không nói “man mác Vàm Nao”. Hơn thế, trong tâm thức Lê Huỳnh Diệu, Huỳnh Thị Nương, bản sắc của Phú Tân còn kết tinh trong hình ảnh hạt nếp, sản vật của đất đai, nếp gắn với văn hóa nông nghiệp, cũng là tinh túy của Trời Đất như suy niệm của Lang Liêu vẫn còn được lưu giữ trong truyền thống gói bánh dày bánh chưng ngày tết của dân ta. An Phú lại chào đón ta bằng mênh mông sông nước như chính tấm lòng rộng mở của dân quê. Ở đó có Búng Bình Thiên thơ mộng, có sông Bình Di êm ả, có em gái thướt tha trong vũ điệu Royal ngọt ngào. Về Long Xuyên, ghé Mỹ Hòa Hưng ta lại được tắm mình trong huyền thoại “người cứu vật, vật đền ơn” nên mới có tên cù lao Ông Hổ. Địa linh xuất nhân kiệt, huyền thoại lại tiếp nối huyền thoại ra đời như dòng thời gian miên viễn trôi. Biết bao lớp người anh hùng đã được sinh ra và trưởng thành từ mảnh đất này, trong đó, tiêu biểu nhất là bác Tôn Đức Thắng. Trong lòng các thế hệ nhà thơ An Giang như Nguyễn Lập Em, Trần Nhựt Hùng, Trần Minh Tân, Nghiêm Quốc Thanh, Anh Sắc, Văn Long, Mai Hương,… Bác luôn là người con trung hiếu, người chồng thủy chung, người công nhân quốc tế bền lòng, người anh hùng dân tộc, vừa giản dị đời thường, vừa phi phàm bất khuất. Nhưng dẫu quan sát từ góc độ nào cũng đều thừa nhận tình cảm gắn bó sắt son của Người với nơi chôn nhau cắt rốn, nơi có cây Ô Môi cháy rực đợi Người về, nơi lời thề trong khúc độc huyền cầm còn day dứt mãi:

Bên bến Ô Môi, Người trở về tìm

Như bao người con xa quê

Nhớ một bến sông

Thương một màu bông đỏ thắm

(Bến Ô Môi)

Và cuộc đời nhiều vất vả, gian khổ, hy sinh của Người đã được đáp đền bằng chính sự trải nghiệm và dấn thân hiếm có, bằng  tự do hạnh phúc của quê hương, dân tộc, và bằng chính tấm lòng ấm áp của người dân An Giang. Dù trở thành người thiên cổ, nhưng hình ảnh của Người vẫn lưu luyến mãi nơi đây, bên cội cây, bên gốc xoài, cây mít, anh linh của Người hòa vào đất, vào nước như phù sa bồi đắp cù lao mỗi ngày. Người đã là “tâm hồn phù sa” kết nối những bến bờ tư tưởng, viết tiếp những trang sử hào hùng vào di sản ông cha.

 “Tự dưng mà nhớ An Giang” còn điểm xuyết những Châu Đốc, Long Xuyên, Tri Tôn với biết bao hấp dẫn vẫy gọi, những tên đất tên người thổi bùng trí tò mò tìm kiếm mê say. Bên cạnh những Tha La, Ô Tà Sóc gợi sự cứng cỏi vững vàng như núi lại có những Kapamtong, những chợ nổi, vùng Giáp Nước… Mỗi cái tên là một sự định vị, có thể không trùng khít với tên gọi hành chính, nhưng nhiều khi, cách gọi dân dã lại chứa đựng cả những ngấn tích văn hóa. Nhiều bài thơ là sự chi tiết, tường tận tên gọi như một tấm bản đồ bằng thơ, “Nơi ấy Tịnh Biên” là tấm bản đồ hoa gấm mà Cao Thế Phiệt đã khảm bằng tất cả tấm lòng và tài thơ:

Trà Sư rừng ngút ngát xanh

Văn Giáo thổ cẩm cho anh tặng nàng

Thiên Cấm Sơn đẹp mơ màng

Kỷ lục tượng Phật mang danh để đời

Nhơn Hưng anh dũng sáng ngời

Thới Sơn bất khuất bao người vì dân

Hòa Thành cổ tự chuông ngân

Nhớ người chí sĩ giấu thân đất này.

(Nơi ấy Tịnh Biên)

Cũng với niềm tự hào như thế, Hữu nhân trong Một thoáng Thoại Sơn, Đoàn Bình Lâm trong Về An Phú quê anh, Nguyễn Ngọc Thành trong An Phú quê em, Trương Công Thuốt trong Một góc phương Nam, hay Minh Bảo Trân trong An Giang tình xuân,… đã giới thiệu với bạn đọc về An Giang một cách ấn tượng trước là địa chính sau là lịch sử, văn hóa. Nhưng cũng chính bởi sự xuất hiện quá nhiều và quá dày địa danh trong tuyển tập làm người đọc bị choáng ngợp bởi không gian. Cảm giác về không gian là cảm xúc bao trùm tập thơ.

 

Ảnh minh họa. Nguồn: Tác giả cung cấp

Không chỉ vậy, ấn tượng về các địa danh còn được nhân lên, cộng hưởng, khuếch tán, sau mỗi lần đọc những bài thơ của các tác giả khác nhau cùng nói về một địa danh, một sự kiện, một con người… Cùng viết về núi Cấm, Trương Nam Chi đã reo vui tinh nghịch khi chơi chữ tên núi (núi Cấm anh/ núi Cấm em/ núi Cấm ai?) cùng lúc ấy phát hiện ra ý nghĩa nhiệm màu của núi hiển thị ngay trong tên nó. Trái lại, Trần Thế Vinh lại ngậm ngùi khi hoài niệm “Xanh xanh núi Cấm bên kia” cũng là xanh xanh tuổi trẻ của mình, tuổi trẻ của người lính gắn với núi Cấm là trận địa vừa hoang sơ vừa anh hùng, trong sự phân thân đầy kịch tính: “Một trẻ hát xôn xao. Một già chiêm nghiệm”. Trịnh Bửu Hoài lên núi Cấm trong một ngày tháng Sáu mù sương nên lại mang ý niệm núi Cấm là nơi giao thoa giữa trời và đất, giữa trần gian và thiên đường, và lòng người cũng được lắng lọc, trở về với đại ngã mênh mông:

Ai lên cõi bềnh bồng cũng ngỡ

Trần gian hóa mộng của thiên đường

Trút cả cõi đời trong góc nhỏ

Để trải lòng ra với mênh mông.

 (Đỉnh núi mù sương)

Trần Sang, với tâm thế của người hành hương về núi Cấm, nhưng không phải để kiếm tìm đức tin, điểm tựa cũng không cầu danh lợi, “sự vuông tròn” mà để say với tình người, tình đời và hiểu những phi lý của thực tiễn bằng nụ cười an lạc của đức Phật giữa cõi ta bà:

Say cây, say núi, say trời

Say tình bằng hữu say người Tịnh Biên

Núi thẳng mà con đường nghiêng

Dẫn ta về với linh thiêng đất trời

Nụ cười đức Phật giữa đời…

(Về núi Cấm)

Trong khi Nguyễn Thanh Hải, Trí Tính gắn bó với núi, Hồ Thanh Điền lại ân tình với đất. Nếu cả ba bài thơ (Bóng núi, Ghi một đêm Châu Đốc, Những lệ núi quê hương) của Nguyễn Thanh Hải đều là núi chiến trận trong hoài niệm. Dẫu là Ô Tà Sóc, Núi Sam, Tức Dụp, Cô Tô hay Ma Thiên Lãnh,… thì đều là núi tang thương, núi “anh linh che chở những linh hồn”. Với Trí Tính, núi là đối tượng sẻ chia những xúc cảm riêng tư trong thế giới của người trẻ hiện đại. Con đường núi Sam là nơi chốn “tôi và em” cùng đến lớp, cùng lớn lên bình yên, rồi cùng hẹn ước như nhà thơ thừa nhận trong Núi Sam xanh. Nhưng mộng đẹp lại không thành, dẫu núi có thủy chung với màu xanh bất tận thì cũng có ngày “bạc đầu” và hóa ra, “tôi” chỉ là “góc núi đơn côi” trong Góc núi mù sương. Hồ Thanh Điền nặng lòng với đất. Dẫu là đất châu thổ phù sa hay con đường đê với hàng hoa điên điển, Ngũ Hồ Sơn hay đất bãi ôm vào lòng những hài cốt vô danh thì đều hữu ích, đều anh linh, và hơn hết gợi được sự cộng thông, chuyển hóa giữa tình đất và tình người: “tôi về ngơ ngác lụt/ rưng rưng giọt hoa vàng” (Con đường điên điển). Hẳn vậy, “không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông” (Heraclitus) nên đứng trước một đối tượng mỗi người nhận thức và chia sẻ những tâm tình riêng cũng là điều dễ hiểu và cũng nhờ vậy mà cảnh sắc thêm phần đa diện, lôi cuốn.

 

Xin mời xem phần tiếp theo của bài viết tại đây.

 

TS. Nguyễn Thị Tuyết - Khoa Sư phạm

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.