Bên cạnh cảm giác không gian bao trùm tập thơ “Tự dưng mà nhớ An Giang” còn gọi tên những cột mốc lịch sử, sự vận động không ngừng của thời gian. Lẽ dĩ nhiên không - thời gian luôn đồng hành trên một hệ trục tọa độ. Và vì vậy không có bài thơ nào đơn thuần không gian hoặc thời gian. Với không gian và thời gian, con người đã làm nên văn hóa. 

Những sáng tác của Nguyễn Lập Em (Tầng chìm trên đất phù sa), Lê Thanh My (Những người lính Tây Nam),Trịnh Bửu Hoài (Vệt máu hình bàn tay), Trúc Linh Lan (Cột mốc 275, Mùa hoa của em Neáng Nghes ơi, Tạm biệt Trà Sư), Lê Quang Trạng (Phù Nam), Trần Tâm (Tâm tình với Thoại Sơn),… đã gợi nên một chiều kích khác của An Giang. An Giang không chỉ đất rộng sông dài, cò bay thẳng cánh, mà còn là một An Giang với chiều dài lịch sử và bề sâu văn hóa, ở đó mỗi con người, “mỗi cuộc đời đều hóa sông núi ta” (Nguyễn Khoa Điềm). Từ người nông dân áo vải ngày ngày miệt mài thức dậy những tầng chìm của đất, đến những cô gái chàng trai “Dáng đứng anh tạc vào thế kỷ”/Sừng sững tầng cao gió lộng mây (Người chiến sĩ thổi kèn). Nên trong từng thớ đất, ngọn cây ta đều nghe tiếng vọng của  cha ông:

Ngồi bên dòng Thoại Giang nghe âm vang một thời cha ông đi mở đất

Máu trộn bùn non mặt rát đất, lưng rát trời

Giọt mồ hôi nào thấm đất hóa sông êm đềm ra bể khơi…

                           (Tâm tình với Thoại Sơn)

hay:

Nghe tiếng cha ông từ nghìn năm trước

Mảnh đất này mỗi giọt máu linh thiêng

                             (Cột mốc 275)

Giữa kho báu trầm tích văn hóa ấy mỗi người có những dự định, những toan tính riêng: Người đàn ông quê đào cho mình mớ bạc cắc đổi rượu chiều vơi

Người thợ dự đoán cho mình mấy trăm viên gạch cổ

Người truy tìm cho mình hai nghìn năm loang lổ

Tôi tìm cho mình quyển sách mục nơi đâu

                                (Phù Nam)

Mỗi lựa chọn cho thấy những thiên hướng riêng và trách nhiệm chung đối với quá khứ và tương lai quê hương, dân tộc. Những dự định ấy sớm muộn sẽ viên thành, bởi họ đã biết tìm kiếm giá trị trong chiều sâu văn hóa, trong trí tuệ hiền minh ẩn mình trong “cuốn sách mục” đang chuyển mình “sang trang”. Trong thời kỳ chuyển đổi hệ hình ấy, Huỳnh Thị Nương cũng như Lê Công nặng tình với làng nghề truyền thống ông cha (nếp Phú Tân, lụa Tân Châu) rồi đau đáu một câu hỏi làm sao tiếp tục trao truyền di sản ấy:

Đứng bên khung dệt bác trầm tư

Nửa buồn nguồn hàng thiếu bàn tay thợ giỏi

Nửa lo thế hệ vắng bóng người nối nghiệp

Rồi đây, dáng lụa có còn buổi chợ mai?

(Thổn thức với nghề)

Trong thơ Lê Huỳnh Diệu, An Giang hôm nay là cả một hành trình: từ huyền thoại ông cha mở đất, đến những mất mát đau buồn trong chiến tranh, những thao thức của nhà nông luân phiên theo thời vụ, nhưng âm hưởng chủ đạo là An Giang đang thay da đổi thịt từng ngày, là niềm tin mê say người dân sẽ ấm no, hạnh phúc:

Đất quê mình cải tạo những công trình

Trữ nước mùa khô, xả thông bắc Vàm Nao ngày lũ

Tía má xen canh lên vườn tít tắp xanh đội ngũ

Bưởi chín đeo cành, xoài lủng lẳng chào xuân…

        (Về Phú Tân)

“Tự dưng mà nhớ An Giang” thu hút tôi không chỉ những địa danh chìm ẩn những cuộc đời, những con người gắn với lịch sử văn hóa mà còn giúp tôi mở mang hiểu biết về tâm hồn con người An Giang. Tâm hồn ấy giản dị, chân chất mà bền bỉ thiết tha với đất, với người. Những món ăn dân dã như bát canh chua hay con cá rô đồng kho quẹt lại trở thành sợi dây cố kết tâm tình của những người xa xứ với quê hương trong những chiều mưa lất phất, hay trong phút yếu lòng. Những cây dại ven đường như cây me nước, cây trứng cá,… cũng gợi dậy cả một trời “tuổi thơ dữ dội” với những trưa trốn ngủ, trốn nhà đi hái trái cây non. Hẳn vậy cho nên, không phải chỉ người anh hùng dân tộc mới được khắc tượng chạm tên, mà bông lúa vàng, con cá Ba sa cũng trở thành biểu tượng trong tâm trí con người và văn hóa An Giang.

An Giang đọng lại trong tôi vừa rất đa dạng vừa rất thống nhất. Ở đó có những đỉnh núi cao mù sương, lại bạt ngàn sông nước, những chợ nổi, làng nổi; nhưng dù cao hay sâu, núi hay sông cũng đều rất hữu tình, hữu linh. Cảnh sắc là những mảng màu rất đậm rất đối chọi: bao trùm là sắc xanh của núi, của nước, của lúa của bèo,… tương quan với màu đỏ rực của bông Ô Môi, của máu, của ý chí căm hờn và quyết tâm,… li ti là những bông điên điển vàng dẻo dai vườn theo dòng nước. Ở đó có những cô gái Khmer khỏe khoắn với làn da bánh mật đang miệt mài với rừng rẫy chói chang, lại có những cô gái Chăm xúng xính áo váy trong đêm hội làng hay đang dịu dàng dệt vải. Dù khác nhau về địa hình, phong tục nhưng ở đâu tình đất, tình người, tình đời vẫn dịu dàng ấm áp, vẫn gửi trao những gì quý giá nhất, đặc trưng nhất mà thiên nhiên đã ban tặng. Người xưa từng nói “Núi không vì cao có tiên thì danh tiếng/Sông không vì sâu có rồng thì linh thiêng”. Dẫu “Tự dưng mà nhớ An Giang” chưa gợi được màu sắc huyền bí, tâm linh như chính huyền thoại và không gian văn hóa nơi đây luôn khiến khách phương xa ngưỡng vọng. Nhưng khiếm khuyết ấy lại làm nổi bật màu sắc thực tiễn trong tình đất, tình người An Giang, và vì vậy, danh tiếng và sự linh thiêng của sông núi An Giang cũng không đơn thuần ở khía cạnh tôn giáo, tâm linh.

*

Tự dưng mà nhớ An Giang tên tập thơ cũng là tên bài thơ của Trương Trọng Nghĩa. Cái tên ấy cho tôi biết rằng tác giả có thể là người An Giang nhưng không sống ở An Giang hoặc là một người không định cư ở An Giang nhưng đã có thời gian gắn bó sâu đậm với mảnh đất này. Tôi đoán như vậy bởi con người ta chỉ nhớ những điều ở ngoài mình, hoặc không còn gắn bó với mình nữa. Nhớ thì thường cần một lý do (hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình – Kiều) và đối tượng cụ thể, nhưng ở Trương Trọng Nghĩa nỗi nhớ ấy là tự nhiên, bất chợt và An Giang trong lòng nhà thơ vừa rất cụ thể vừa rất khái quát, vừa có thể lý giải vừa không thể lý giải vì sao nỗi nhớ lại cứ xốn xang… Có lẽ nhà thơ đang ở thế lưng chừng khoảng cách không gian và khoảng cách tinh thần, ở cơ may nắm bắt và khả năng vụt mất, ở sự tường tận tỉ mỉ và sự mơ hồ khái quát,… cũng như thế lưng chừng của người cảm nhận, người đứng ngoài từ bên trong.

 


[1] Nhiều tác giả (2020). Tự dưng mà nhớ An Giang. Tp Hồ Chí Minh: NXB Văn hóa Văn nghệ.

TS. Nguyễn Thị Tuyết - Khoa Sư phạm

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.