Học kì I, năm học thứ ba, đối với sinh viên Đại học Sư phạm có học học phần là Phương pháp nghiên cứu khoa học (PPNCKH), 1 tín chỉ (15 tiết ).

Học phần này trang bị những cơ sở lí luận và các thao tác tiến hành làm một đề tài Nghiên cứu khoa học (NCKH) khi sinh viên đi kiến tập. Ngoài những ý nghĩa thiết thực mà môn học đem lại (tôi xin không trình bày những ý nghĩa ra đây, vì tất cả chúng ta trong thời gian học đã biết hết rồi), sau thời gian đi kiến tập sẽ tiến hành làm một đề tài NCKH thì chúng tôi thấy còn nhiều điều cần bàn.

Khi va chạm vào thực tế thì mới thấy được giữa lý thuyết và thực tiễn có một khoảng cách rất xa, cái khoảng cách này không phải do sự yếu kém của chúng tôi mà rõ ràng là do những hạn chế về việc sắp xếp thời gian của môn học đem lại. Thử hỏi với một học phần chỉ 15 tiết với tên gọi PPNCKH thì làm sao trang bị hết những kĩ năng để làm một bài NCKH. Trong 15 tiết đó, chúng tôi phải giải quyết một khối lượng lý thuyết dài 69 trang giấy A4, dĩ nhiên là thời gian dành cho các thao tác thực hành rất ít. Mặc dù giáo viên đã lồng ghép giữa lý thuyết và thực hành trong quá trình giảng dạy, rõ ràng NCKH thì phải có thời gian nghiên cứu nghiền ngẫm chứ đâu phải nói tiến hành là tiến hành. Và sau thời gian học chúng tôi không được làm một đề tài NCKH (dù chỉ là thử thôi để rút kinh nghiệm) thì làm sao mà nắm vững hết các thao tác làm một đề tài NCKH chứ. Đùng một cái, đi KTSP, phải làm đề tài NCKH bài bản và khoa học đàng hoàng.

Trong "Tài liệu hướng dẫn Kiến tập sư phạm tập trung" có đưa ra 11 "bài tập Tâm lí -Giáo dục cho hệ Đại học Sư phạm" mà sinh viên chúng tôi (dường như từ trước đến giờ vẫn thế) gọi là những đề tài NCKH, đó là:

1.                  Tìm hiểu việc chọn nghề của học sinh (ở lớp "M" hay khối lớp "H") trường THPT A

2.                  Tìm hiểu hiện tượng lưu ban, bỏ học của học sinh trường THPT "A" và một số biện pháp khắc phục

3.                  Tìm hiểu hiện tượng bỏ tiết -trốn học của học sinh( ở lớp "m' hay khối lớp "H") trường THPT A và một số biện pháp khắc phục

4.                  Tìm hiểu hiện tượng chơi game của học sinh (ở lớp "M" hay khối lớp "H") trường THPT "A" và một số biện pháp khắc phục.

5.                  Tìm hiểu tình hình học tập ở nhà  của học sinh (ở lớp "M" hay khối lớp "H") trường THPT A

6.                  Tìm hiểu việc phối hợp  giáo dục giữa nhà trường và gia đình học sinh ở trường THPT A

7.                  Tìm hiểu những thủ thuật, biện pháp của giáo viên giáo viên nhằm thu hút sự chú ý của học sinh vào bài giảng ở môn "T" trường THPT A

8.                  Tìm hiểu cơ sở vật chất - kỹ thuật của trường THPT A

9.                  Tìm hiểu việc giáo dục học sinh cá biệt ở lớp "L" hay khối "N" của trường THPT A

10.              Tìm hiểu việc xây dựng đội ngũ cán bộ giáo viên ở trường của trường THPT A

11.              Tìm hiểu việc học thêm của học sinh lớp "L" hay khối "N" của trường THPT A.

Đó là 11 bài tập tương ứng với 11 đề tài NCKH mà sinh viên chọn 1 đề tài trong số đó thực hiện trong đợt Kiến tập sư phạm (KTSP). Trước tiên chúng tôi muốn nói đến, là theo quy định, sinh viên không được làm đề tài khác ngoài 11 đề tài này, rõ ràng sinh viên đã bị ràng buộc vào khuôn khổ những đề tài này, không phát huy khả năng sáng tạo hay phát hiện đề tài mới của sinh viên. Nếu như sinh viên làm được, tại sao không? Còn rất nhiều đề tài hay, mà chỉ khi nào sinh viên thâm nhập vào thực tế mới phát hiện ra như "hình thức tổ chức và hoạt đông của các Câu lạc bộ ở trường THPT", "tìm hiểu công việc bồi dưỡng học sinh giỏi ở trường THPT", "Tìm hiểu tiết sinh hoạt ngoài giờ (SHNG) của học sinh lớp 10 và đề xuất vài mô hình sinh hoạt mới"...còn rất nhiều đề tài mà sinh viên chỉ có thể phát hiện khi thâm nhập vào trường phổ thông.

Trong thời gian kiến tập, được tiếp xúc và tìm hiểu học sinh lớp 10, chúng tôi rất tâm đắc với tiết SHNG (theo chương trình mới, mỗi tuần học sinh lớp 10 có một tiết SHNG) của học sinh lớp 10. Đây là tiết lớp tự quản, các em có thể tổ chức bất kì trò chơi tập thể nào với phương châm vừa học vừa chơi, rất sinh động, hiệu quả và bổ ích... Dĩ nhiên, do kiến thức các em còn hạn chế, nên các mô hình tổ chức chưa được phong phú và cần giáo viên tư vấn, hỗ trợ ... Tại sao chúng ta lại không nghiên cứu đề tài này và đề xuất vài mô hình sinh hoạt cho các em? Câu trả lời là không nằm trong bài tập quy định. Tiếc thật, đành chịu biết làm sao bây giờ, quy định mà...

 Có những bài tập đưa ra thì lại vượt "quá tầm" nghiên cứu của sinh viên. Khi KTSP chỉ có 3 tuần mà trong đó chúng tôi làm không biết bao nhiêu là công việc như tìm hiểu về địa phương, trường lớp, soạn giáo án dự giờ rút kinh nghiệm (đây là phần quan trọng), tham gia chủ nhiệm lớp và tìm hiểu tình hình lớp chủ  nhiệm, tổ chức phụ đạo, hướng nghiệp cho các em, hỗ trợ trường tổ chức các phong trào,...Chính vì vậy với những đề tài như "Tìm hiểu hiện tượng chơi game của học sinh( ở lớp "M" hay khối lớp "H") trường THPT A và một số biện pháp khắc phục", trở nên khó thực hiện, vì muốn làm được đề tài này phải nắm được số lượng các dịch vụ Iternet trên địa bàn (mà thú thật học sinh trong một lớp có hộ khẩu ở nhiều xã trong huyện, chưa nói là có trường hợp ở huyện khác đến học), rồi tiếp tục tìm hiểu số lượng học sinh vào những dịch vụ này số lượng mỗi ngày là bao nhiêu, các em thường chơi những loại game nào, tìm hiểu nguyên nhân, gia đình/ nhà trường đã có biện pháp gì khắc phục chưa, đề xuất các biện pháp khắc phục...Nhưng trong vòng ba tuần ngoài bộn bề công việc trong trường, lớp nên sinh viên không thể tìm hiểu được tình hình này, chưa nói tới những khó khăn khi tiến hành nghiên cứu đề tài này (như môi trường sống, chủ các dịch vụ có hợp tác với mình không...). Nên đây là một đề tài rất ít sinh viên làm ( nếu không nói rằng là không có hoặc giả có thì cũng sao chép ở đâu đó lại và có sửa chữa đôi phần (vấn đề này sẽ được đề cập ở dưới)). Hoặc đề tài "Tìm hiểu việc thực hiện phối hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình học sinh ở trường THPT A", đây cũng là một đề tài khó, tính chính xác không cao vì không có thời gian tìm hiểu so sánh giữa năm học trước và năm học sau, để rút ra kết quả, chính vì thế đây cũng là đề tài mà sinh viên rất ít làm...Còn có một số đề tài mà do điều kiện mỗi trường kiến tập khác nhau nên rất khó thực hiện được như đề tài số 3, số 5, số 9. Ví dụ như trường tôi kiến tập và lớp tôi chủ nhiệm không bao giờ có hiện tượng bỏ tiết, trốn học chứ đừng nói gì là học sinh cá biệt.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, thì có một số đề tài mà sinh viên chọn làm rất nhiều như đề tài số 1, số 8, số 10, đặc biệt là đề tài 7. Trong các đề tài này, thì đề tài số 1 không cần bàn, vì do mỗi lớp chủ nhiệm khác nhau nên tình hình chọn nghề của các em cũng khác nhau. Đối với đề tài số 8 và số 10, nếu sinh viên đi chung trường kiến tập mà làm cùng đề tài này thì chắc chắn rằng nội dung không có gì khác. Còn đề tài số 7, có lẽ đây là đề tài được sinh viên chọn nghiên cứu nhiều nhất, do tính khả thi và thực tế của nó, nếu những sinh viên cùng chuyên ngành, cùng kiến tập chung một trường mà lại làm cùng một đề tài này thì rõ ràng đề tài nghiên cứu của những sinh viên đó cơ bản sẽ giống nhau về nội dung nghiên cứu.

Chính những quy định từ các "bài tập Tâm lí -Giáo dục hệ đại học sư phạm" đã làm hạn chế rất nhiều khả năng sáng tạo, tìm tòi của sinh viên, làm cho nội dung nghiên cứu bị hạn hẹp và co cụm vào chỉ vài đề tài. Thời hạn quy định nộp đề tài quá ngắn (chỉ có một tuần), nên chất lượng của đề tài nghiên cứu sẽ không cao. Tôi chưa nói tới một bộ phận sinh viên (cũng do thời gian quá ngắn làm không kịp) đã lấy đề tài năm trước hoặc của các bạn kiến tập chung chép lại (dĩ nhiên là có chỉnh sửa chút ít ) làm đề tài của mình. Đây là vấn đề rất khó kiểm soát, đã từng diễn ra ở các khóa trước và một số đã trot lọt. Mong rằng những người có trách nhiệm cần nhìn nhận lại vấn đề, để đề tài NCKH của sinh viên KTSP đúng với ý nghĩa "Nghiên cứu khoa học" của nó.

 Trần Văn -ĐH5

Trần Văn -ĐH5

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.