In bài này 

Kính tặng Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Mười - Tiền Giang

Giữa cái nắng gay gắt như đổ lửa của những ngày hè, chúng tôi đến nghĩa trang liệt sĩ Dốc Bà Đắc- huyện Tịnh Biên như trở về một địa chỉ mà chiến tranh khốc liệt đã diễn ra suốt thời gian dài trong quá khứ. Một bà lão thấp thoáng loay hoay trong dãy mộ đang dò tìm một cái tên liệt sĩ nào đó. Bà lão ngước mắt nhìn tôi: “Con coi dùm bác mộ này có phải tên là Mai Văn Lộc ở Tiền Giang không con?”. Tôi gật đầu, bà lão sà xuống ôm lấy ngôi mộ.

Bà là Mẹ Việt Nam anh hùng Nguyễn Thị Mười, quê ở tỉnh Tiền Giang. Năm nào bà cũng khăn gói lặn lội từ dưới quê lên đây để hương khói cho đứa con trai đã anh dũng hy sinh nằm lại nơi đây của mình. Đôi mắt nhăn nheo, khuôn mặt hốc hác như chứng tích của bao tháng ngày làm lụng vất vả và đau đớn vì thương nhớ các con đã ra đi biền biệt. Chúng tôi xin gọi bà bằng Má như những đứa con ngã xuống đã từng gọi. Bà vui vẻ nhận lời và ngồi xuống trò chuyện cùng chúng tôi. Ngồi bên Má, chúng tôi lắng nghe từng dòng hồi ức của bà như chia sẻ nỗi lòng của một người Mẹ anh hùng tràn đầy tâm sự.

Má có hai đứa con trai đi Cách mạng. Cả hai đều được phân công chiến đấu tại chiến trường Tây-Nam. “Ngày hai đứa nó đi, Má khóc biết bao nhiêu nước mắt, Má không cản tụi nó cũng không nói vô nói ra gì vì thấy tụi nó kiên quyết muốn đi đánh giặc. Ba tụi nó chết sớm, Má ở nhà với đứa con gái lớn và thằng con trai út còn nhỏ. Từ đó, tụi nó bặt vô âm tín cho đến ngày thằng lớn trở về trong thương tích và thằng nhỏ đã hy sinh vĩnh viễn”.

Chúng tôi chăm chú lắng nghe từng lời trong ký ức xa xôi của người Mẹ, bà kể tiếp: “Thằng lớn về chưa được bao lâu thì vết thương tái phát, ra sau hè rồi trợt té xuống sông lúc nào Má không hay, bao nhiêu giấy tờ trôi đi hết. Tới lúc hay được thì nó chết rồi! Còn thằng nhỏ hy sinh ở đâu bên đất Campuchia Má cũng không biết. Mấy chú mới kiếm gặp hài cốt nó ba bốn năm nay, cán bộ ở tỉnh cho Má hay. Thế là Má tức tốc cuốn gói tìm đến đây”. Bà kể lại trong sự nghẹn ngào xúc động. Còn chúng tôi không khỏi chạnh lòng trước những đau thương mất mát quá to lớn của bà: “Má ơi, lúc các anh đi chiến đấu có ai lập gia đình chưa?”. Với cái giọng chân chất của người dân đất Nam Bộ, bà nói: “Tụi nó đi lúc đó mới 21, 22 tuổi gì đó, chưa thằng nào có vợ con gì hết. Thằng nhỏ chiến đấu rồi chết khi còn rất trẻ. Má nhận được giấy báo tử lúc nó mới độ 27, 28 tuổi gì à”.

Rồi bà kể tiếp về tháng ngày tìm mộ con: “Được tin có mộ con Má ở nghĩa trang này, Má tức tốc đón xe đò lên. Mà Má từ nhỏ quê mùa dốt nát, có biết chữ nghĩa gì đâu. Nhờ mấy chú ở đây kiếm tiếp, cả buổi trời mới kiếm được. Ngày về Má khiêng mấy cục đá trọng trọng làm dấu, hổng dè năm sau lên ai khiêng đâu mất tiêu hết, không tìm gặp Má lại nhờ các chú kiếm tiếp nữa. Bây giờ thì Má đã nhớ nằm khoảng giữa ở khu này, hàng này, kế bên mấy cái mộ khác”. Chúng tôi lặng đi vì cảm động trước nỗi lòng của Má. Không vốn chữ nghĩa giắt lưng, không học hành tử tế thế mà trong lòng người phụ nữ ấy tràn trề lòng yêu nước, giàu đức hy sinh đến như vậy. Người dân Việt Nam vốn là vậy, Mẹ Việt Nam anh hùng xưa nay vốn là vậy!

Ngồi trò chuyện ít lâu, bà lại vỗ tay vào đầu mấy cái, chúng tôi hỏi mới biết ra bà vốn đau đầu mãn tính: “Má năm nay sáu mươi mấy tuổi rồi, mỗi lần nhớ về chuyện cũ là Má nhưng nhức nửa bên đầu vậy. Mà trí nhớ của Má dạo này kém lắm. Mấy con biết hông? Nhiều lúc nấu cơm canh thay vì bỏ đường vô thì Má lại bỏ muối, có lúc còn quên để xà bông vô nữa. Tới lúc bắt cơm lên ăn mới biết. Thiệt là già rồi sanh lú lẫn”…

Ngồi bên Má, chúng tôi như sống lại những tháng ngày của thời chiến tranh khốc liệt. Đau thương và mất mát trùm lên khắp mọi xóm làng, để giờ đây trở thành vết thương lòng không thể nào xoá sạch trong lòng những người như Má. Má nói mình là người lú lẫn, là người dốt nát quê mùa nhưng trong mắt chúng tôi, trí tuệ và tấm lòng Má sáng ngời hơn bất kỳ ai hết. Má đã hy sinh những khúc ruột của mình cho Tổ quốc dân tộc, cho độc lập và hoà bình của đất nước ngày hôm nay. Lớp da trên mi mắt Má dài trĩu xuống như muốn che khuất tầm nhìn, nhưng đôi mắt tràn đầy lòng nhân hậu và thương nhớ con trai không vì thế mà không ngời sáng. Đôi tay Má gầy còm ốm yêu nhưng vẫn đủ sức đẻ nhổ sạnh cỏ leo bám lên trên mộ con Má.

Chúng tôi cầm tay Má, chia tay Má trong niềm lưu luyến. Thầm chúc Má luôn khoẻ mạnh để sống lâu và nhìn đất nước ngày càng thay da đổi thịt. Để thoả lòng những đứa con của Má đã hy sinh cho cuộc sống hôm nay.

Chúng tôi ra về. Bóng Má vẫn thấp thoáng trong nghĩa trang liệt sĩ Dốc Bà Đắc. Và hằng năm, cứ mỗi dịp tháng 7 lịch sử này là mỗi dịp người ta thấy một người Mẹ Tiền Giang loay hoay tìm mộ con mình trong hàng ngàn ngôi mộ nằm tại đây vì “năm nào Má cũng lên thăm nó hết!”.

Minh Nguyệt

 

Minh Nguyệt

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.