Làng quê tôi xa tít miền Trung, nơi tách bạch hẳn với đời sống nhộn nhịp của xe cộ và con người đô thị. Kí ức còn chảy trong tôi là hình ảnh con đường đất đỏ bụi bặm uốn cong bởi những cung tre. Mái đình uy nghiêm mỗi khi làng vào hội. Những ruộng rau xanh chạy dài mướt mắt. Và những năm tháng chắt chiu giọt ngọc giếng làng…

   Người quê tôi ví giếng làng là nguồn gốc của sự sống. Bởi cả làng chỉ có hai mặt giếng. Giếng đất nằm trơ trọi giữa bãi lau hoang vì ít nước. Người làng tôi cho đó là “đuôi long”. Còn giếng gạch, có dát sỏi ong, quanh năm săm sắp nước, tương truyền là “miệng long”. Thuở còn để đầu ba giá, tôi hay ủng oẳng theo mẹ ra bờ giếng “miệng long” để được tắm táp. Nước giếng thay đổi theo mùa. Nên mùa hè nước mát rượi, xối một gàu mà lòng khoan khoái, dễ chịu xiết bao. Còn mùa đông, nước ấm kì lạ, tựa như được mẹ xoa dầu, cái cảm giác ấy chạy dọc sống lưng giờ vẫn còn nhắc nhớ.

   Làng tôi có nhiều lệ, tục gắn với giếng làng. Mỗi kì vào hội Thần Mùa, cầu khi giáp hạt, nước giếng lại được sóng sánh rót vào những bát khảm hoa bên cạnh những cờ phướn và mâm linh quả. Đó là những phẩm vật thờ cúng linh thiêng, thể hiện sự tôn kính các thế lực huyền bí, thánh thần. Hay mỗi dịp làng làm cỗ lớn, nước giếng lại được đem ra mời mọc nhau. Nước trong văn vắt, vị chạm đầu lưỡi ngọt lịm. Đó là sự lành ngọt tự nhiên, bởi trên mặt giếng bụi bặm đã được ngăn lại bằng những dạt bèo. Loại bèo tai chuột, dễ hút tạp chất mà lại lắng được cặn. Thành giếng cũng đươc thếp vào những cụm rêu quang, xanh sáng loáng. Và những nhánh dương xỉ, cỏ gianh non sương bọc vào giữ ẩm, tránh lở xói một cách hữu hiệu.

  Giếng là mảnh hồn làng. Chiều tối chị tôi vẫn thường đeo quang ra gánh nước. Đó cũng là chốn trêu ghẹo, hẹn hò của những lứa cập kê, dưới ánh trăng vàng mờ tỏ.Trai làng mê chị tôi như điếu đổ. Bởi chị môi đỏ, má hồng, tóc xõa ướp hương nhu, giỏi đảm đương chuyện nhà, chuyện cửa. Nhưng nhìn dáng chị bé nhỏ, nặng nhọc với đôi quang gánh trĩu oằn trên vai, chập choạng giữa nắng chiều hiu hắt, tôi lại chạnh lòng và dấy lên những linh cảm mơ hồ. Tôi sợ sau này chị sẽ vất vả, sẽ lại nặng gánh truân chuyên gần trọn một đời như mẹ đã từng.

    “ Em tưởng giếng sâu nên nối sợi dây dài

      Hay đâu giếng cạn em tiếc hoài sợi dây…”

  …

  Cứ như thế, bóng hình cái giếng đi sâu vào trong tâm khảm, nếp ăn, nếp nghĩ của người làng tôi. Mỗi bận xa quê, tôi lại thèm được trở về vốc một ngụm nước giếng rưới lên môi, lên mắt đến quay quắt. Nước mát trong, ngọt lịm như xoa dịu những được - mất của cuộc đời.

  Giếng làng là một góc kỉ niệm thuở ấu thời, là tình yêu thương sâu nặng với bàn tay kì cọ, chăm bẵm của mẹ, là cái buổi xuân thì, tơ óng của chị tôi, là hương đình, nếp tổ...

                       “Dù ai ra Bắc vào Nam

           Cũng không quên được giếng làng thân yêu”

    

            Nguyễn Đức Phú Thọ - DH8C2

Nguyễn Đức Phú Thọ - DH8C2

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.