…Mùa nước nổi không chỉ mang tới cho người ở quê những nỗi lo toan mà còn mang tới cho mọi người một sợi chỉ, một sợi chỉ đỏ của tình láng giềng… Và cũng chính sợi chỉ ấy đã giúp cho người dân quê xích lại gần nhau hơn, chung tay vượt qua hết mùa nước này rồi lại tới mùa nước khác…

Một buổi chiều trời nóng oi ả. Chiếc quạt gió cuối góc nhà đã hoạt động hết công suất nhưng chẳng khiến ông trời mát lên được bao nhiêu. Gắng gượng lắm cũng chỉ học được vài trang bài học. Chịu hết siết, tôi vất tập vở sang một góc, lặng lẽ tìm nơi chạy trốn cơn nóng. Tôi nhẩn nha lang thang quanh xóm, vô tình tôi gặp ông chú tôi đang loay hoay dưới sàn nhà nội.

Thì ra chú Út đang lôi từ trong chiếc xuồng cũ ra mấy khúc cây bạch đàn. Ôi trời! Chiếc xuồng của ông nội lúc trước đây mà! Bây giờ nó đã cũ kỹ, sứt ván, mất chai… và được tận dụng làm nơi chứa những thứ lặt vặt của nhà nội, không còn được ngang dọc lướt đi trên đồng nước như xưa. Chiếc xuồng đã cùng nội tôi đã trãi qua không biết bao nhiêu mùa lũ, đã gắn bó với Ông trong những đêm giăng lưới, những lần thăm câu, những lần bà nội tôi đi chợ bán cá, mưu sinh cho những ngày tháng nước nổi.

Quê tôi, vốn là vùng cù lao bình dị với bạt ngàn màu xanh của những cánh đồng, của nương rẫy, với chằng chịt những kênh rạch và hẳn nhiên không thiếu những con sóng nước  thi nhau tít tắp vỗ bờ.

Lúc trước, quê tôi vẫn chưa có đê bao ngăn lũ và hẳn nhiên mùa nước nổi đã trở thành một phần tất yếu của cuộc sống nơi đây. Ngày ấy, ngày của những cơn lũ tràn về trắng xóa khắp những cánh đồng. Trong khi những người lớn thì luôn phải lo toan, đánh vật với mùa lũ, đánh vật với nỗi lo cơm áo trong mùa lũ khi nước vây quanh đến tận mép sàn nhà thì bọn trẻ chúng tôi lại háo hức đón lũ hơn bao giờ hết, như đón người bạn thân đã không gặp lâu ngày trở về.

Hồi đó, trong xóm dường như nhà nào, dù khó cách mấy cũng gắng sắm lấy một chiếc xuồng. Chiếc xuồng ấy gần như quanh năm suốt tháng, như là vật vô tích sự, cứ nằm mãi trong góc tối dưới sàn nhà. Thế nhưng khi đến mùa nước nổi, chiếc xuồng ấy lại là người bạn thân thiết nhất của người dân quê tôi.

Tuổi thơ bọn trẻ quê tôi, ngoài những thiếu thốn vật chất, có lẽ vui vẻ và thú vị hơn hẳn bọn trẻ cùng lứa ở thành thị, đặc biệt là vào mùa lũ. Ở thành thị, phần lớn trẻ con đều phải tắm hồ bơi, làm quen với những con sóng nhân tạo, áo phao lại rất dè dặt với những chuyện sông nước và phải có sự theo sát của ba mẹ. Quê tôi thì lại khác. Ngày tiếp ngày, con nước liên tục dâng cao, đôi khi quá sàn nhà cũng chỉ cho làm bọn tôi thêm phần thích thú. Mà lạ thay, học hành thì lẹt đẹt chứ chuyện học lội thì chúng tôi mau lẹ mới ngộ! Chẳng mấy chốc, cứ hễ đứa nào bắt chuồn chuồn thả “ún rún” là vài bữa sau, y như rằng nó lội lẹ như tép!  

Những ngày đi học vào mùa nước nổi mới lại càng thú vị. Xóm chỉ cách trường không đầy cây số nhưng cả bọn con nít trong xóm lại chuẩn bị trước cả mấy giờ cho việc đi học. Đã thành thói quen, cứ đúng giờ “Ngọ” là bọn “kình ngư” chúng tôi lại dong xuồng đi tắm đồng. Cả bọn mười mấy đứa chen chúc nhau trên hai, ba chiếc xuồng bé tí. Đã chật cứng như vậy mà có đứa nào đâu mà chịu ngồi im, đi tắm đồng mà! Thôi thì ngồi trên xuồng mà nạnh đứa nào nấy giỡn.

Ra đến đồng trống để tắm thì cả bọn đã mệt đừ cả người. Nhưng coi bộ đứa nào cũng còn hăng lắm. Nguyên cả một vùng nước trong veo, nhìn thấy cả tận đáy với đủ loại rong riêu chỉ một chốc là trở nên đục ngầu, náo loạn bởi một “trận càn” nữa của tụi tôi. Những tiếng hò hét, đập nước liên tục, những tiếng cười giòn giã tan vào trong từng cái bọt sóng nổi phều trên mặt nước.

Không chỉ có mỗi việc tắm đồng, mùa lũ, tụi con nít chúng tôi còn rất quen thuộc với những buổi giăng lưới, đặt ụ, câu cá…, như một cách để phụ tiếp gia đình mưu sinh trong mùa lũ. Mùa lũ nào cũng vậy, thấy người lớn giăng lưới, đặt vớn thấy ham quá, tôi với thằng em, con ông chú Út cũng năn nỉ mẹ rồi hùn tiền mua được 2 tay lưới. Những ngày nước nổi, không mấy khi tụi tôi ở không.

Hai thằng nhóc lưng trần, đầu khét lẹt mùi nắng cứ chống xuồng ra đồng đồng, tìm nơi giăng lưới. Thường tụi tôi chọn những chỗ đất ruộng, lúa mùa đang mọc ngấp nghé khỏi mặt nước. Cả hai dọn cho sạch lúa thành một đường dài rồi giăng lưới. Xong, lại quay sang kiếm chỗ nước nông đặt ụ. Những cái ụ to bằng chiều rộng chiếc xuồng được tụi tôi làm khá đơn giản: dùng một tấm lưới cước lót phía dưới đáy, 4 đầu lưới cột dây sẵn, phía trên lưới được chất lên rất nhiều rong tảo, và chủ yếu là lá chuối. Đó là nơi cư trú ưa thích của các loài lươn, cá chạch…. Những chiếc ụ làm xong khoảng vài ngày sau là tụi tôi bắt đầu thu hoạch. Những lần đầu còn mới mẻ, kéo ụ lên khiến tôi vừa hồi hộp, vừa thích thú biết chừng nào. Đến giờ tôi vẫn nhớ cái cảm giác giật mình khó tả khi dỡ cái ụ đầu tiên lên.

Bữa tối, vẫn là hai đứa tôi chống xuồng đi thăm lưới. Thật ra, đến sáng bữa sau thăm cũng được nhưng thằng nào cũng nôn kiếm được cá, với lại thăm sáng thường là cá chết vì thiếu oxi do mắc lưới khi tối. Cá dính lưới thì đủ loại nhưng là lưới nhỏ nên thường cũng chỉ là cá nhỏ, không nhiều, nhằm lúc hên dính cả rắn nước nữa. Và cũng chỉ hết mùa nước, là tấm lưới cũng phải bỏ luôn vì nó rách nát những dấu cá, rắn vùng vẫy.

Rồi tụi tôi có cả những buổi câu cá. Thường là đi học về, cơm nước xong là tôi xách cần câu, chống xuồng ra bụi tre sau hè ngồi câu cá. Thật ra thì nhà đứa nào nước cũng ngập tới sàn, chỉ cần ngồi nhà là đã câu được cá rồi. Nhưng chỉ có nhũng bụi tre gai sau hè mới lôi cuốn được tụi con nít chúng tôi. Cá lóc, trê lớn thì hiếm nhưng ở  đây có rất nhiều cá rô cỡ lớn, mà ở quê tôi thường hay gọi là cá rô mề. Nếu đứa nào lựa đúng chỗ là giựt cần câu mệt nghỉ. Cứ vậy, một chiếc xuồng, một cần câu, tụi tôi trông giống như những cụ Nguyễn Khuyến ngày xưa.

Rồi còn biết bao chuyện nữa. Những câu chuyện về những mùa nước nổi dài bất tận với những kỷ niệm dù cho đã bị che lấp bởi một lớp bụi dầy của thời gian vẫn không thể phai mờ trong tôi. Mùa nước nổi đã một thời gây cho người dân quê tôi biết bao khó khăn, trăn trở để sinh tồn. Nhưng cũng chính những mùa nước ấy đã biết chuộc lỗi bằng cách ban tặng hào phóng cho quê tôi biết bao là sản vật tôm cá dồi dào. Và cả những niềm vui, nỗi buồn, con cá, bó rau, chén gạo ngày lũ cũng được người dân quê tôi chia sẻ cho nhau quanh bếp lửa, chung trà, chén rượu.

Ở những nơi đầu sóng ngọn gió như ở quê tôi, trong mùa lũ mới thấy quý, thấy trân trọng tấm lòng của mọi người. Nhà ai nước ngập quá sàn chòm xóm không ai đợi nhắc, lội nước sang cùng nhau kê ván, nâng sàn, không nề hà nặng nhọc. Có người mới chống xuồng hái điên điển vô tới, sẵn sàng chia ngay một nữa cho nhà người kế bên. Có nhà thiếu gạo, sai con rụt rè qua mượn vài lon, nhà kia sốt sắng mở khạp xúc gạo cho mượn ngay, dù khạp gạo đã gần tới đáy….

Mùa nước nổi không chỉ mang tới cho người ở quê những nỗi lo toan mà còn mang tới cho mọi người một sợi chỉ, một sợi chỉ đỏ của tình láng giềng, ngày càng thắt chặt thêm trong những cơn khốn khó khi phải đương đầu với đất trời, bão lụt. Và cũng chính sợi chỉ ấy đã giúp cho người dân quê xích lại gần nhau hơn, chung tay vượt qua hết mùa nước này rồi lại tới mùa nước khác…

Giờ đây, mùa nước nổi chỉ còn là những kỷ niệm đã dần lùi sâu vào trong ký ức ngày càng phai mờ của người dân quê tôi. Đê bao đã khoanh kín hết cù lao, cuộc sống của người dân cũng ngày càng khấm khá, tiện nghi hơn trước. Những chiếc xuồng là phương tiện di chuyển chủ yếu ngày nào giờ cũng đã vắng hẳn, nhường chỗ cho những loại xe gắn máy tiện dụng. Những chiếc ụ, tay lưới cũng không còn bởi đồng ruộng bây giờ đã khô ráo, đâu còn những con nước lên cao khỏi đầu như ngày nào. Nhà cửa ở quê tôi bây giờ san sát, cao ráo, khang trang hẳn lên.

Nhưng chốc chốc, vài ngày lại nghe tiếng đôi co, cãi vã vì những chuyện không đâu, máng xối nhà này đổ nước tung tóe sang nhà kế bên, con gà nhà kế lại bươi nát đám húng quế nhà nọ… Rồi hàng rào sắt lại được dựng lên, từng nhà một, từng nhà một, muốn sang nhà kề bên chơi trở nên khó hơn trước. Bất giác tôi chợt ước lại được nhìn thấy chiếc xuồng của Nội lành lặn, thong dong chở tôi đi giăng lưới như ngày trước… Ngày của mùa nước nổi.

 

MS.42

MS.42

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.