In bài này 

Chúng ta không thể sống trong điều kiện thiếu nước. Thế nhưng nguồn nước ấy đang dần ngày càng cạn kiệt và ô nhiễm

Như chúng ta đều biết, nước là một thành phần quan trọng trong cơ thể con người, nếu thiếu nó, chúng ta sẽ không thể tồn tại và phát triển được. Theo những nghiên cứu khoa học của các chuyên gia ngày nay thì: chúng ta có thể nhịn ăn nhiều ngày nhưng không thể nhịn khát hơn hai ngày được. Qua đó cho chúng ta thấy được vai trò rất quan trọng của nước đối với cuộc sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội.

Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, nguồn nước được sử dụng nhiều hơn và được khai thác đến mức tối đa như: khai thác nước ngầm ở những độ sâu nhất định để phục vụ quá trình sản xuất nước uống đóng chai, sử dụng nước cho quá trình sản xuất công nghiệp, cho quá trình tưới tiêu trong nông nghiệp.

Cùng với quá trình sử dụng nguồn nước để phục vụ cuộc sống của mình, con người cũng trả lại cho tự nhiên những tác động không tốt, gây  ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn nước, làm nguồn nước ô nhiễm nặng nề, gây thiếu nước sạch một cách trầm trọng.

Cùng với quá trình công nghiệp hóa, con người sử dụng nhiều nước hơn vào các hoạt động sản xuất  và làm ô nhiễm nguồn nước bởi các kim loại nặng, các khí hidrocacbua,... từ đó làm ô nhiễm chất lượng nguồn nước.

Ngoài ra, hiện tượng khai thác nguồn nước cho tưới tiêu, sản xuất nước uống đóng chai một cách quá mức cũng làm cạn kiệt nguồn nước mặt và đặc biệt là nguồn nước ngầm mà phải mất nhiều năm sau đó mới có thể khôi phục được 30% lượng nước ngọt này của địa cầu. Khi mực nước ngầm bị cạn kiệt hay bị hạ thấp đi nhiều sẽ gây ra các hiện tượng sụt lún rất nguy hiểm đến tính mạng con người và sự phát triển xã hội.

Việc làm lãng phí nguồn nước như thế sẽ gây ra hiện tượng thiếu nước ngọt ở nhiền nơi và quá trình hoang mạc hóa sẽ dần dần tăng lên làm giảm diện tích đất canh tác và từ đó gây bất ổn cho an ninh lương thực của con người, đặc biệt ở các nước đang phát triển và các nước nghèo.

Với sự tăng dần nhiệt độ của trái đất, từ đó làm cho các tảng băng ở 2 cực tan ra dẫn đến sự dâng cao của mực nước biển, làm tăng nguy cơ nhấn chìm các đảo và các lục địa có độ cao thấp. Hơn nữa quá trình tan ra của các tảng băng này giải phóng một lượng đáng kể các khí gây hiệu ứng nhà kính và các khí này lại tiếp tục làm tăng dần nồng độ của chúng thông qua quá trình gây hiệu ứng nhà kính.

Như ta đã biết các tảng băng ở hai địa cực có tác dụng hấp thụ một lượng đáng kể khí CO2 và các khí gây hiệu ứng nhà kính. Sự hấp thụ nhiệt vào ban ngày của các khí CO2, CH4, …, lượng nhiệt này sẽ bức xạ lên bề mặt quả đất vào ban đêm làm cho trái đất dần ấm lên, làm tan băng của 68% lượng nước ngọt ở Bắc Cực và Nam Cực. , và như thế các khí gây hiệu ứng nhà kính bị giữ lại ở đây sẽ thoát ra ngoài. Chúng sẽ làm cho trái đất ấm dần lên và lại làm cho các tảng băng tiếp tục tan ra, giải phóng tiếp một lượng các khí gây hiệu ứng nhà kính.  Theo chu kỳ như vậy thì các tảng băng sẽ dần dần tan hết và chắc rằng chưa đến giờ phút đó thì chúng ta đã không còn tồn tại nữa.

Quá trình nóng lên toàn cầu có ảnh hưởng mạnh đến các sự biến động của khí hậu, các hiện tượng hạn hán, lụt lội xảy ra ngày càng phức tạp hơn và với cường độ ngày càng mạnh hơn ở các vùng, miền. Trong khi phía bắc Trung Quốc ngày càng hạn hán trầm trọng và sông Hoàng Hà không còn đủ nước để chảy ra cửa biển vào mùa hè, thì con sông Dương Tử ở phía Nam lại thường xuyên gây lụt lội nghiêm trọng. Sắp tới đây, khi mà đập Tam Hiệp được xây dựng trên sông Dương Tử được đưa vào sử dụng sẽ gây sự xáo trộn, biến động nghiêm trọng về vấn đề nguồn nước cho các quốc gia ở hạ lưu sông Mêkông trong đó có Việt Nam chúng ta.

Hồng Đăng - DH8MT

Hồng Đăng - DH8MT

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.