Tỉnh An Giang nằm ở đầu nguồn sông Tiền và sông Hậu, hai mạch máu khởi nguồn cho nền văn minh miệt vườn (nói theo lời của Sơn Nam). An Giang có đầy đủ các yếu tố văn hóa của toàn bộ vùng đồng bằng Tây Nam (di chỉ khảo cổ Óc Eo đã chứng minh vùng Thoại Sơn vốn là một cảng thị = yếu tố biển), ngoài ra An Giang còn có yếu tố núi riêng biệt mà không tỉnh nào của miền Đồng bằng sông Cửu Long có được, với cụm Thất Sơn (thực ra có nhiều hơn 7 ngọn núi) linh thiêng huyền bí. Người An Giang hiền hòa chân chất như hạt phù sa bao đời vẫn lặng thầm bồi đắp cho quê hương. Đây còn là cái nôi đã khai sinh ra đạo Hòa Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và đặc biệt là Bửu Sơn Kỳ Hương.

Khi nhắc đến Bửu Sơn Kỳ Hương, hẳn ta nghĩ ngay đến Phật Thầy Tây An và ngôi chùa nổi tiếng là Tây An tự, nằm trong cụm di tích văn hóa ở Thị xã Châu Đốc, gồm Miếu Bà Chúa xứ, Lăng Thoại Ngọc Hầu và chùa Tây An, chùa Hang.

Cùng chung sống hòa hợp trên mảnh đất linh thiêng và màu mỡ này có bốn cộng đồng dân tộc, người Kinh (chiếm đa số, có mặt khắp nơi trên địa bàn tỉnh), người Hoa (chủ yếu cư trú ở Thành phố Long Xuyên và Thị xã Châu Đốc), người Chăm Islam (cư trú chủ yếu ở Châu Phú, Phú Tân và tập trung đông đảo nhất tại xã Châu Phong thuộc Tân Châu) người Khmer (có mặt tại Châu Thành, Thoại Sơn, Tịnh Biên...và đông đảo nhất ở Tri Tôn).

Người Kinh ở đây chủ yếu theo đạo Phật Hòa Hảo, Phật Đại Thừa, Thiên Chúa giáo, Tin Lành, và các tín ngưỡng dân gian khác như thờ thành hoàng bổn cảnh, tín ngưỡng thờ Mẫu....Người Khmer ở đây hoàn toàn theo đạo Phật Tiểu thừa (đạo Phật nguyên thủy = đạo Phật Nam Tông). Người Chăm theo đạo Islam mới (có nguồn gốc từ Mã Lai và Indonesia, vốn mang nhiều nét khác biệt với Chăm Bà Ni (Islam cũ) ở miền Trung).Người Hoa ở đây chủ yếu thờ các tín ngưỡng có nguồn gốc từ đại lục như Quan Thánh Đế Quân, Bắc Đế, Huỳnh Đế, Thiên Hậu Thánh Mẫu....

An Giang luôn là mảnh đất hiền hòa, linh thiêng và màu mỡ, vì thế mà người dân An Giang vẫn tự hào truyền tụng nhau rằng, quê ta là đất Phật. Cái đẹp này, cái màu mỡ này, cái huyền bí này, cái yên bình này là nhờ Phật ban cho.

Nếu như Miếu Bà Chúa xứ là một ví dụ điển hình chứng minh sức mạnh đồng hóa lấn lướt của tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Vì tượng Bà Chúa xứ, nguyên thủy là tượng một vị nam thần trong thần thoại Balamon của Ấn Độ có tên là Vishnu, ( vị thần bảo tồn, một trong tam vị nhất thể cùng với thần sáng tạo Brahma và thần hủy diệt Silva), nhưng đã bị tín ngưỡng thờ mẫu của người Việt, trên hành trình khai hoang vùng đất mới đã đem bà Liễu Hạnh từ đất Bắc vào miền Trung gặp gỡ Bà Mẹ Xứ Sở Ponagar (Cửu Thiên Huyền Nữ) và rồi tiếp tục vào Nam để biến vị thần Vishnu này thành Bà Chúa xứ. Thì chùa Tây An lại là một biểu tượng cho tính dung hòa, tổng hòa, hòa hợp các yếu tố tôn giáo tín ngưỡng của tất cả bốn dân tộc đang cùng chung sống hòa bình trên địa bàn tỉnh. Khi bước đến tam quan, ta bắt gặp ngay bức tượng Quan Âm tống tử được thờ ngay trước cổng chùa. Bức tượng mô tả một vị nữ Bồ Tát đang bế một hài nhi, khuôn mặt vị Bồ Tát hiền hậu ngời sáng và mang nét nhân chủng người phụ nữ Việt thuần chất. Đây là tích nói về nỗi oan khuất của Quan Âm Thị Kính khi bị Thị Mầu vu oan, vốn đã rất nổi tiếng xưa nay trong kho tàng văn hóa dân gian Việt Nam.

Theo những nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc, thì loại tượng này xuất hiện ở Việt Nam tương đối muộn, niên đại vào thế kỷ XVIII hay XIX về sau. Hình thức pho tượng này có thể xem là việc đổi mới của mô tuýp tượng Quán Thế Âm tọa sơn. Tại chùa Mía (Hà Tây) pho tượng Quán Thế Âm tống tử được xem là đẹp nhất về đồ hoạ, màu sắc và thể dáng trong tất cả những pho tượng cùng chung thể tài nầy. Tượng to vừa phải bằng con người thực, dáng dấp của một thôn nữ hiền thục, phúc hậu, ngồi trên một mỏm núi, chân trái hơi co, còn chân kia duỗi thẳng, rất tự nhiên, hai tay đỡ một đứa bé (con của Thị Mầu). Bên cạnh có một con vẹt đậu, mà theo một số truyền thuyết (Quán Thế Âm truyền kỳ - 1943) thì con vẹt biểu trưng cho Thiện Sỹ.

Những chi tiết chạm khắc trên đã theo như tích truyện, mà trong đó đứa bé thì được hình dung hoá là “chúng sanh trong bể trầm luân”. Nhìn chung lại, những hình tượng đức Quán Thế Âm rất gần gũi với người bình dân Việt Nam, thường biểu hiện cho sự “cứu khổ, cứu nạn”, “viễn ly khổ ách”.Việc thờ Mẫu gắn liền với thờ Phật là trường hợp bình thường trong nhiều chùa chiền, đáp ứng với nhu cầu tín ngưỡng bình dân. Tuy nhiên, ở chùa Tây An, tất cả tượng liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu, như bà Chúa Tiên, bà Chúa Ngọc, được thờ trong cùng một gian với các tượng Phật.Với kiểu dáng bày trí này, cho thấy rõ mô thức “tiền Mẫu, hậu Phật” (bên ngoài thì thờ Mẫu, bên trong thì thờ Phật). Điều này cho thấy trọng tâm thờ phụng của chùa, mà các vị trụ trì đã chủ trương từ đầu, khác với nhiều ngôi chùa miền Bắc (tiền Phật, hậu Mẫu). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Sự bày trí tượng thờ trong điện thần của chùa Tây An đã chứng tỏ sự hội nhập giữa tín ngưỡng thờ Mẫu đan xen giữa Đạo Giáo và Phật Giáo. Tất cả đều bày trí trong cùng một gian chính điện. Với tín ngưỡng thờ Mẫu ở đây, điều đáng nói nhất là những pho tượng thờ Mẫu xuất hiện ngay một nơi mà tục thờ Mẫu đã lựa chọn bà Chúa Xứ để phụng thờ trong một quy mô lớn lao (Lễ hội Vía Bà Chúa xứ đã được xếp vào hàng lễ hội cấp quốc gia). Hơn thế nữa, trong các bàn thờ Mẫu tại chùa Tây An, có một nhân vật được phụng thờ khác lạ; đó là nhân vật cô Hai Hiên. Căn cứ theo truyện tích thì: đây là người con gái nhà Mân, làm nghề bán bánh lọt, bị chết chìm xuống sông, nên đã được lập thờ cùng với các bà Chúa Tiên, Chúa Ngọc, Cửu Thiên Huyền Nữ. Sự phụng thờ nầy càng làm nổi rõ tín ngưỡng thờ Mẫu đối với người dân vùng đồng bằng sông Cửu Long vẫn không hề đứt đọan, cũng như sự tồn tại với người nông dân Việt Nam.

Sức mạnh tín ngưỡng thờ Mẫu đã phát triển mạnh mẽ trong việc thờ cúng tại chùa Tây An, đã khiến cho việc bày trí trong chánh điện có vẻ rối rắm. Tuy nhiên, với ý niệm thờ cúng thì trong tư duy tín ngưỡng bình dân lại rất lớp lang hợp lý...

(Còn tiếp)

Cao Văn Đức - K. VHNT
(Trích đăng trong TC Kiến thức NN số 699)

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.