Chùa Tây An được Tổng đốc An Hà là Doãn Uẩn (tên thật là Doãn Ôn) xây dựng năm 1847. Cái tên Tây An là cầu mong biên giới Tây Nam luôn được an ổn.

Ở bậc thềm sân chính của chùa có tượng hai con voi, một trắng sáu ngà, một đen hai ngà “Voi đen hai ngà tượng trưng sức mạnh đối đải thiện ác xung khắc vô minh. Voi trắng sáu ngà tiêu biểu lục căn thanh tịnh, dẫn tích hoàng hậu Ma Da sinh con truyền chủng chứ không vì dục vọng khoái lạc, và Bồ Tát vì chúng sinh mà nhập thai sáng suốt không mê muội” (Chùa Tây An, một thắng cảnh núi Sam – Nguyễn Hữu Thiện).

 

Ngay tiền chính điện được xây lộ ra bên ngoài là một mái vòm lượn sóng vốn có nguồn gốc kiến trúc Ả Rập, Ấn Độ, bên trong đặt pho tượng Đức Thích Ca đang kiết già với vẻ thanh thoát lạ thường. Trang trí cho đường viền giống như một cái mái che hình chiếc lá dựng nghiêng trên đầu bức tượng là hình rắn thần Nagar 7 đầu màu xanh được đắp nổi, đây là lối trang trí đặc trưng ở ngôi  chùa của người Khmer, ta có thể bắt gặp mô tuýp trang trí này ở chùa Svayton (nghĩa là khỉ đu cây, dân gian thường gọi là chùa Sà Tón, ở Tri Tôn), hơn nữa, theo truyền thuyết, tổ tiên của người Khmer là vị nữ thần rắn Nagar, vì thế mà hiện nay, trong đám cưới của họ, vẫn bảo lưu phong tục chà răng tượng trưng, hàm ý việc vật tổ của họ bẻ răng để không còn độc nữa, một hành vi tượng trưng cho sự giác ngộ.

 

Phía trên cao, nổi bật trên nền trời xanh là mái vòm to lớn hình củ hành, hai bên đông tây cũng là mái vòm (nhỏ hơn) của lầu trống, lầu chuông. Đây vốn là một mô thức kiến trúc đặc trưng của các thánh đường Hồi giáo, mái vòm này không khác gì mái vòm của các thánh đường của người Chăm Islam ở Châu Phong như Mubarak...

 

Trên đầu các cột đỡ mái vòm ấy là hình các tiên nữ Apsara có cánh, một sự kết hợp giữa các vũ công Apsara với chim thần Garuda, vốn là vật cỡi của thần Vishnu trong thần thoại Ấn Độ (người Khmer và cư dân Phù Nam vốn đã tiếp thu Balamon giáo trước khi đón nhận Phật giáo Nam Tông).

 

Hai bên hông của ngôi chùa là nhà Đông Lang và Tây Lang, trên tường phía ngoài có trang trí bằng những cái đĩa tròn, trong đĩa vẽ hình các tiên nữ trên thiên giới đang dâng đào tiên trong Lễ Bàn Đào của Tây Vương Mẫu (tích này gọi là Ma Cô hiến đào), một yếu tố đạo giáo điển hình, đó là chưa kể trong hệ thống tượng thờ bên trong chính điện còn có Tứ đại thiên vương, Thập điện diêm vương, có Ngọc Hoàng, Huỳnh Đế, Quan Thánh Đế Quân, .... Đây là tín ngưỡng tôn giáo đặc trưng của người Hoa. Ngoài ra, có một chi tiết khá lý thú mà tôi nghĩ rằng, không ngôi chùa nào trên lãnh thổ Việt Nam có được. Đó là trong chính điện của chùa Tây An, có thờ cả vua Nghiêu và vua Thuấn, thờ Tam Hoàng Ngũ Đế. Đây hẳn nhiên là yếu tố nói lên sự hiện diện của Nho giáo cũng như vai trò cúng dường của người Hoa, và một phần thể hiện sự ảnh hưởng của Doãn Uẩn.

Bên trong, chân giá trống còn có khắc nổi hình chim hạc, chim phượng và dưới cùng là tích Lý Ngư vượt Vũ Môn với hình khắc nổi con cá chép đầu rồng rất đẹp. Điển tích này vốn là sản phẩm đặc trưng của Trung Hoa. Như vậy là các yếu tố văn hóa đặc trưng của người Việt (thờ Mẫu), người Chăm Islam(mái vòm củ hành), người Khmer (Rắn thần Nagar, chim thần Garuda, vũ công Apsara…), người Hoa (Đạo giáo, Nho giáo…) đã hội tụ ở Tây An tự. * Doãn Uẩn và Phật Thầy Chùa Tây An được Tổng đốc An Hà là Doãn Uẩn (tên thật là Doãn Ôn) xây dựng năm 1847. Cái tên Tây An là cầu mong biên giới Tây Nam luôn được an ổn.Doãn Uẩn là ai? Một Nho sinh, đậu cử nhân, được giao phó làm võ tướng cầm binh cùng Nguyễn Tri Phương, Tôn Thất Nghị, Võ Văn Giai phá đồn Dây Sắt, lấy lại trấn Tây Thành, tạo nên chiến thắng Ô Đông (Oudong) và được ngự ban “An Tây mưu lược tướng”, sắc phong Tổng đốc An Hà (An Giang – Hà Tiên). Rõ rằng, việc Doãn Uẩn dựng Tây An tự là một sự tổng hòa các yếu tố Nho – Phật trong con người ông. Võ công để giữ yên vùng viễn biên cho nhân dân an cư lạc nghiệp, dựng chùa để nhân dân có chỗ nương tựa về mặt tín ngưỡng tâm linh giống như chung hưởng bóng mát dưới cội Bồ Đề. Vừa đáp ứng nhu cầu quốc gia về quốc phòng, vừa đáp ứng nhu cầu nhân dân về tinh thần. 

Phật thầy Đoàn Minh Huyên là ai? Ông sinh giờ ngọ, ngày rằm tháng 10, năm Đinh Mão (1807), niên hiệu Gia Long, tại làng Tòng Sơn, thuộc Cái Tàu Thượng, Sa Đéc xưa (vốn thuộc trấn Vĩnh Thanh).

 

Hành trạng của ông trước khi đến Tây An tự, có nhiều giả thuyết (đa phần là lưu truyền trong dân gian) không thống nhất và rất ít tư liệu, chỉ biết rằng, kể từ khi đến quy y ở Tây An tự, ông chủ yếu bốc thuốc cứu người và thực hiện nhiều phép trừ tà, đuổi cọp, đuổi sấu…đem lại bình an cho nhân dân quanh vùng. Nhưng có một số yếu tố đã được lịch sử xác thực. Trong bài “Chùa cổ Tây An”, Trịnh Bửu Hoài có nói “ (Đoàn Minh Huyên) Là một chí sĩ yêu nước, có tinh thần cách mạng, bất mãn triều đình phong kiến, thường ra tay cứu độ dân lành nên bị quân lính nghi là gian đạo sĩ. Ông đến chùa Tây An trong thời kỳ Thiền sư Hải Tịnh Nguyễn Văn Giác trụ trì (đời thứ nhất) …chu du vùng Bảy Núi lập nhiều trại ruộng để khẩn hoang sản xuất và trở thành căn cứ chống Pháp. Quản cơ Trần Văn Thành, một đại đệ tử của ông đã khởi nghĩa ở Láng Linh, hùng cứ Bảy Thưa một thời làm giặc Pháp khiếp sợ.”

 

Để hiểu hơn về hoạt động ái quốc này, thiết nghĩ ta nên biết đôi chút về Bửu Sơn Kỳ Hương.

 

Bửu Sơn là núi báu, muốn nói rằng vùng Thất Sơn là nơi hội tụ linh khí. Kỳ Hương là hương thơm lạ, mang hai hàm ý, hàm ý thứ nhất gần gũi và liên tưởng đến Hội Long Hoa (theo điển thánh của Phật giáo, sẽ tương ứng với một vị Phật ra đời,  mở ra một chu kỳ mới, vận hội mới), còn hàm ý thứ hai để nói đến những chí sĩ đang chuẩn bị lương thực, khí giới hầu giành lại giang sơn từ tay người Pháp, đưa đất nước, dân tộc này bước vào vận hội mới tươi sáng hơn.

 Và hầu như những tín đồ buổi đầu của Bửu Sơn Kỳ Hương đều đồng thời trở thành những nghĩa sĩ tham gia khởi nghĩa Bảy Thưa. Rõ ràng, đây là phương châm “không theo đời bỏ đạo, không vì đạo bỏ đời”. Bản chất là nội Nho ngoại Phật, mang hình ảnh của phong trào Cần Vương.

Vì sao dân gian lại tôn ngài là Phật Thầy? Nghe vừa lạ vừa dân dã thuần phát tính chất Việt?

 

Nếu như các vị tổ Phật giáo từ trước đến đời triều Tự Đức, chỉ có danh hiệu Thiền sư hay Hòa thượng, chưa từng có vị nào được gọi là Phật Thầy. Trong am cốc của Bửu Sơn Kỳ Hương không hề có cốt tượng, tranh thờ, chỉ có tấm trần điều (vải đỏ) tượng trưng cho đấng huyền vi. Điều này có gợi cho ta nghĩ đến cái vô vi của Lão Tử hay phiến đá đen (thiên thạch) ở Thánh địa Mecka? Ngài chủ trương tứ ân là: Ơn tổ tiên, cha mẹ; ơn đất nước; ơn tam bảo (Phật, pháp, tăng); ơn đồng bào và nhân loại. Hạt nhân của tứ ân này chính là sự kết hợp giữa Phật giáo Đại thừa với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Giáo lý này mang nét tương đồng với Phật giáo Hòa Hảo, khác với phái thiền Lâm Tế (vốn bắt nguồn từ Tàu Khê, nơi hoằng pháp trứ danh của Huệ Năng) của Hải Tịnh ở Tây An tự.

 

Rồi việc ngài cho cắm 5 cái thẻ để chống lại những tấm bia Càn Long mà kẻ thù (các thầy địa lý Tàu) muốn cắt long mạch để triệt đường sinh nhân kiệt và vượng khí của nước Nam, cũng đáng để ta lưu tâm. Lý giải cho điều này, Mai Văn Tạo viết trong “Theo dấu Phật Thầy” như sau “ ..vì Người tiên tri Thất Sơn là hoa địa của Việt Nam, tích tụ nhiều địa huyệt hiển linh chờ ngày khai mở. Người cho cắm thẻ để trấn áp, ngăn ngừa sự phá hoại của các thầy địa lý người Tàu. Bởi họ có thể biết Thất Sơn là chốn thâm mê ác địa, anh linh vượng khí, Thất Sơn sẽ làm cho Việt Nam vô cùng hưng vượng…”.

 Năm cây thẻ đó gồm:

1. Bắc phương hắc đế (cắm tại Ngã Bát, ngọn rạch Cái Dầu, làng Thạnh Mỹ Tây, Châu Đốc)

2. Nam phương xích đế (cắm ở Giồng Cát (Rừng tràm)

3. Đông phương thanh đế (cắm tại làng Vĩnh Hanh (Long Xuyên)

4. Tây phương bạch đế (cắm tại Bài Bài, làng Vĩnh Ngơn, Châu Đốc)

5. Trung ương huỳnh đế (cắm ở phía trước núi Cấm)

Đây chính là ngũ hành, tuân thủ nghiêm khắc về màu và phương tương ứng của từng hành.Rõ ràng tấm trần điều, tứ ân, cắm thẻ, bốc thuốc, lập trại ruộng, đuổi cọp, đuổi sấu, Bửu Sơn Kỳ Hương…nói lên rằng, Phật Thầy Đoàn Minh Huyên chỉ mượn Tây An tự như một chốn dung thân và ngụy trang nhằm tránh sự theo dõi của kẻ thù, về mục đích cuối cùng vẫn là thực hành lý tưởng cứu quốc của một nhà chí sĩ yêu nước, với bản chất là mượn Mật Tông (Mật Tông này mang nhiều màu sắc của sự tổng hợp các yếu tố saman giáo bản địa), như một phương tiện để thông qua quá trình chuẩn bị cả vật chất và tinh thần cho cuộc khởi nghĩa. Một sự tổng hòa các giá trị trong một con người yêu nước. Hơn nữa những tri thức về ngũ hành, về y, lý, số của Phật Thầy, ta có thể nghĩ rằng, Phật Thầy đã hấp thụ một nền giáo dục Nho học trước khi bước vào Thiền môn.

Cao Văn Đức - K. VHNT
(Trích đăng trong TC Kiến thức NN số 699)

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.