In bài này 

Có lẽ, trên dãy đất hình chữ “S” này, ít nơi nào dấu ấn về “Hổ” lại sâu sắc, đặc biệt như ở cái xứ Mỹ Hòa Hưng. Nói như thế tưởng chừng như nói xạo, bởi đó đây vẫn có nhiều địa danh, truyện tích gắn liền với “ông Ba Mươi”. Chúng ta vẫn thường nghe các cụm từ “hang ông Hổ”, “đền ông Hổ”, “miếu ông Hổ”, “đình ông Hổ”… trong ngôn ngữ hàng ngày. Không đâu xa, vùng Thất Sơn ta vẫn còn tồn tại những truyền thuyết về “ổng” mà mỗi lần nghe lại không khỏi “sởn gai óc”. Có điều, “ông Hổ” ở Mỹ Hòa Hưng đặc biệt ở chỗ, mỗi khi nhắc đến, người dân nơi đây không thấy sợ mà lại cảm thấy lòng đầy tự hào về quê hương và tin tưởng vào sức mạnh của tình người.

Người xưa kể rằng, thuở xưa, vùng đất này là một khu rừng rậm rạp, nhiều muông thú. Những đoàn người đi mở đất từ phía Long Xuyên đã chặt cây rừng kết bè vượt sông Hậu sang khai phá rừng hoang làm ăn. Có hai vợ chồng nọ làm nghề hạ bạc, trong một đêm mưa gió bỗng phát hiện một con thú đang kiệt sức cố bám vào dề trấp. Hai ông bà vớt lên mới biết đó là một chú bạch hổ. Tuy lúc đầu thấy sợ nhưng vì cảm thương con vật, hai ông bà quyết định đem về nhà nuôi, có gì cho ăn nấy. Con hổ từ từ lớn lên trong sự cưu mang của hai ông bà. Nhờ thuần dưỡng nên hổ hiền khô, không bao giờ quấy phá xóm làng.

Nhiều năm sau, khi hai vợ chồng nọ quá cố (mà lại không có con nối dõi), người dân trong làng sợ ông Hổ không còn nơi nương tựa, đành vái van khuyên ông hãy trở về với chốn sơn lâm. Người ta kể rằng, vào một đêm trăng sáng, người trong làng thấy “ông” ra quỳ ở mộ “song thân”, đầu cúi xuống như lạy tạ thâm ân, rồi sau đó quay đầu lững thững đi về phía dãy Thất Sơn hùng vĩ. Hàng năm, hễ cứ vào ngày giỗ chạp của hai vợ chồng người hạ bạc, ông Hổ lại cõng về một con thú rừng để cúng. Mãi đến khi “ông” già yếu, bỏ xác lại xứ cù lao, bà con mới cảm kích nghĩa cử cao đẹp của ông mà lập miếu  thờ.

Ngày nay, đến Mỹ Hòa Hưng, hầu như gặp bất cứ người nào, dù già hay trẻ, ai ai cũng có thể kể cho chúng ta nghe huyền thoại trên bằng tất cả sự tự hào. Có thể ở mỗi người kể, nội dung cốt truyện, chi tiết tình tiết có phần khác nhau đôi chút, nhưng chung quy vẫn là đề cao cái tình, cái nghĩa của cả con người lẫn con vật.

Đặc biệt, từ Long Xuyên, qua phà Trà Ôn, đi rẽ về phía ấp Hưng Long (lên hướng đầu cồn), chúng ta sẽ đến Bửu Long cổ tự, một ngôi chùa đã xây dựng cách đây hơn hai trăm năm chỉ để thờ…ông Hổ. Chính vì vậy mà chùa này còn được dân địa phương gọi là Miếu ông Hổ. Giữa bạt ngàn đồng ruộng xứ cù lao, miếu ông hổ khiêm tốn nép mình dưới những tán cây rợp bóng. Vừa bước qua cổng, lập tức hiện ra trước mắt ta ngôi mộ ông Hổ kèm với tượng đắp nổi một chú hổ trắng đang ngồi quay về hướng Đông. Trên mộ có khắc dòng chữ “Thái Sơn Thạch Bàn Đường” cùng với ngày giỗ ông (28/10 âm lịch).

Theo lời sư Hoằng Ngũ (tên thật là Nguyễn Văn Năm, 63 tuổi), người duy nhất trông coi ngôi miếu đã mười mấy năm nay, thì vào các ngày rằm lớn (rằm tháng Giêng, tháng 7, tháng 10 âm lịch) và ngày giỗ ông Hổ, dân địa phương đến cúng đông lắm. Họ đến cầu cho được sức khỏe, bình an, cầu cho gia tư hưng thịnh… Rồi mỗi người cùng nhau chung góp một ít, ai có đậu góp đậu, có nếp góp nếp, có đường góp đường, người không có của thì góp công, cùng nhau nấu nướng trước cúng sau ăn… Bởi vậy, ngày thường miếu chỉ có mình sư Hoằng Ngũ trông coi, nhưng đến những ngày lễ giỗ, miếu trở thành của mọi người, của bá tánh thập phương. Âu đây cũng là một nét đẹp trong văn hóa cộng đồng Nam Bộ còn sót lại!

Chúng tôi rời miếu ông Hổ, chạy dọc theo con đường rải nhựa về hướng phà Ô Môi, dạo một vòng tản mạn quanh xứ cù lao trước thềm xuân Canh Dần mới thấy quê hương ngày nay vô cùng tươi mới. Chúng tôi cảm nhận được cái mát mẻ, yên bình nơi đây. Và, trên mỗi gương mặt người, dường như ta nhận thấy sự hân hoan hòa trong cốt cách vô cùng bình dị. Có lẽ, từ ngàn xưa, vùng đất này đã hun đúc cho con người những phẩm chất cao quý, vị tha, nên ngày nay, dù cuộc sống có tất bật đua tranh, người ta vẫn giữ được những gì cao đẹp nhất!

 

 

Trương Nhật Trường – K.VHNT

  • Chưa có lời bình cho bài viết này.